III. Quá trình chuẩn bị cho một vở diễn múa rối nước
1. Sự ra đời của một con rối truyền thống
Các diễn viên thuộc phường rối Hồng Phong, làng Bồ Dương, xã Ninh Thọ, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương làm các con rối từ gỗ sung già, nhẹ và dễ nổi trên mặt nước. Thớ gỗ sung mịn và không có các vết sâu đục, không có mấu và không dễ gãy. Người nghệ nhân cắt gỗ thành những khúc vừa kích thước con rối, bóc võ và để cho gỗ khô dần. Các con rối sẽ bị sững nước và mục nếu gỗ không được phơi thật khô. Sau đó người nghệ nhân dùng đục, bát, tỉa để chạm gỗ và nối chân tay rối, nối các máy dây điều khiển.
Cuối cùng, người nghệ nhân sơn phủ lên bề mình rối một lớp sơn ta để chống thấm nước và bền. Mỗi con rối phải sơn bảy lần. Các màu thường dùng gồm có màu đen, xanh lá cây, hồng và vàng.
Phường rối Yên ở xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây dùng gỗ cây yến để làm rối. Con rối được sơn 4 hoặc 5 lần bằng một loại vecni truyền thống có phủ lớp bạc, do vậy các con rối rất bền.
Phường rối Ra ở huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây sơn rối theo 3 bước:
Bước 1 : Sơn hom
Người thợ thủ công sơn phủ con rối bằng một lớp sơn ta trộn với đất sét, sau đó dùng một viên cuội để đánh bóng rồi dùng đá màu cọ xát thân rối trong nước.
Bước 2 : Sơn lót
Tiếp đó người thợ sơn con rối thêm vài lần nữa để lấp kín mọi vết nứt. Sau khi khô, cứ mỗi lớp sơn lại được người thợ dùng một viên đá để đánh bóng.
Bước 3 : Thếp bạc
Lần này trong lúc sơn còn chưa khô, người thợ dán lên các lá quỳ dày 3 cm, rộng 4 cm2, do làng Kieu Kỵ, huyện Gia Lâm, Hà Nội sản xuất. Người thợ có thể dán thêm một lớp lá quỳ nữa trước khi sơn thêm 2, 3 lần nữa bằng sơn trộn với nhựa cây mủ.
Các thợ thủ công dùng sơn ta để sơn các màu da cam thẫm, nâu đậm,da cam nhạt, đỏ và đen, nhưng với các màu xanh lá cây và đỏ son thì phải dùng sơn của Thái Lan hoặc của Nhật Bản.
2. Tạo hình các nhân vật trong múa rối nước
Trong nghệ thuật múa rối nước vai trò tạo hình là rất quan trọng. tạo hình các con rối có hai công việc chính. Một là tạo hình bộ mặt, chân tay và than hình con rối bằng các loại gỗ thích hợp như gỗ sung, gỗ thừng mực… Đó là những loại gỗ nhẹ chịu nước và dung được lâu. Hai là mặc quần áo và trang điểm cho con rối gỗ trở thành con rôi biểu diễn qua việc vẽ mặt, hoá trang, phục trang. Đạo cụ gắn bó với con rối phải thích hợp với nhân vật mà con rối đảm nhiệm.
Có trường hợp nghệ nhân chỉ tạo hình con rối gỗ rồi đưa cho phường rối gia công những bước sau. Có nơi chính những nghệ nhân trong phường rối làm công việc tạo hình con rối từ đầu đến cuối để có được con rối theo ý muốn.
Các nghệ nhân xưa tạo hình con rối đậm chất dân gian. Họ không chỉ gần gũi với những nam, phụ, lão, ấu trong các làng xóm mà còn gần gũi với những long, ly, quy, phượng ở các đình, chùa, miếu, am; với các pho tượng Thánh, tượng Phật với các ông Thiện, ông Ác… vá với các vị La Hán.
Nghệ nhân quan sát tất cả những người xung quanh rồi ngẫu hứng tạo ra các con rối qua tài nghệ và xúc cảm nghệ sĩ của họ. Họ còn học các kiểu cách tạo hình của các phường bạn để hoàn thiện mình.
Khi tạo hình conn rối chủ yếu chú trọng đến những con rối chính được nghệ nhân nhấnmạnhtrong tích và trò diễn. Họ cố gắng làm sao để trên bộ mặt con rối có được những nét điển hình cần nhấn mạnh. Ở tích trò Thạch Sanh chém trăn tinh, bộ mặt của Lí Thông có vẻ gian giảo, mắt lươn (ti hí). Hắn mặcchiếc áo gấm co hình tròn ghi mấy chữ phú, quý, khang, ninh. Còn Thạch Sanh thì cởi trần, đóng khố, trông to khoẻ lại có chút đần độn. Có nhiều con rối được tạo những nét ngoa ngoắt để gây cười mà vẫn giữ những nét điển hình của nhân vật. Các nghệ nhân vô tình đã gây theo thủ pháp ấn tượng, chủ yếu miêu tả cái thần chứ không đi vào cái chi tiết. Trong quá trình đưa con rối gỗ đến con rối biểu diễn, nghệ nhân phải vẽ vời, tô điểm, phục trang, phục sức cho con rối trở nên một nhân vật điẻn hình. Vai Thị Kính thì nâu song giản dị, khăn màu nâu non, áo màu nâu già, cổ đeo tràng hạt.Còn vai Thị Mầu chỉ mặc chiếc yếm đào xộc xệch, thắt lưng bao xanh tơi tả, nhưng bộ ngực lại đồ sộ, cao và nhọn…
Tạo hình vai chú tễu được chú ý đặc biệt. Hình tượng chú tễu là trẻ, hoạt bát, vui tính, duyên dáng, hài hước, tích cực, dóng dả mọi việc trong làng xã. Miệng Tễu luôn mở nụ cười thường trực, hai tay luôn vung vẩy. Chú chỉ khoác hai mảnh áo cộc lấy lệ, cổ đeo vòng bạc, rốn phơi thỗn thễn, để trần toàn than, lộ ra một màu trắng da thịt, trông ngon như một miếng giò lụa gọi lên một vẻ đẹp chàng trai mà các cô gái làng mơ ước.
Với các vai đào chín, đào chính như Thị Kính, Thị Phương, bà Trưng… các nghệ nhân xử lí theo cái nhìn : mặt mày phúc hậu, mặt phật, khuôn mặt hơi bầu bầu, lông mày nét ngang hoặc vành trăng, cổ kiêu ba ngấn, miệng cười trăm huê…
Các vai nữ lệch như Thị Mầu, cái đánh ghen (Đánh ghen), cô gái hứng dừa (Hứng dừa), cô gái đánh đu (Đánh đu)… được tạo với những khuôn mặt hơi trái xoan, hơi điêu, chao chát, lệch lạc một chút. Lông mày đậm mà dài.
Có những vai diễn không cần phải chăm chút lắm về tạo hình bộ mặt nhưng phải lưu ý tới trang phục và những thứ họ mang theo để nói lên than phận của nhân vật. Ví như trong trò diễn Sỹ, Nông, Công, Thương hoặc trò Ngư, Tiều, Canh, Độc… phải xử lí như sau : Sỹ có khuôn mặt vuông chữ điền, mặc áo dài, chit khăn đóng, một bên nách kẹp một chồng sách, một tay cầm chiếc bút lông…Nông vác cày trên vai, đầu chít khăn tai chó, Công mang theo chiếc rìu và cái búa… Thương ăn mặc sang trọng, vai mang theo mấy túi tiền dài… Ngư mang theo cái đó và giỏ đựng cá… Với các tích và trò mang tính chất tôn giáo, các vị thánh, thần được mô tả bệ vệ, oai nghiêm nhân hậu. Các vị anh hùng thường được mang mũ áo xênh xang, lộng lẫy vàng son với các khuôn mặt đầy đặn, tươi vui, nhập thế.
Các nhân vật dựa trên các tích trong các vở tuồng, chèo thì ăn mặc giống như các diễn viên tuồng, chèo. Khương Linh tá có bộ mặt trắng, điểm những vệt đen dữ dội, rau quai nón. Đổng Kim Lân mặt đỏ, mặc áo xanh, mũ có tua. Thị Phương, Mỵ Nương thì mặt hoa, da phấn. Họ là những giai nhân.
Một điều đáng chú ý nữa là trong vịêc tạo hình các nhân vật, nghệ nhân phải có đầu óc tưởng tượng, lãng mạn và luôn nghĩ đến cái lạ, cái đẹp. các vai đóng trẻ em trong trò Nhi đồng hý thuỷ dưới tay các nghệ nhân tạo hình đã trở nên các diễn viên nhí đầu trọc để trái đào, má trắng, môi đỏ như son, mũm mĩm rất đáng yêu làm cho người lớn them cái tuổi thơ không trở lại của mình.
Nhiều nghệ nhân kế thừa được nghệ thuật của các nghệ nhân lớp trước là chú, bác, cha, anh của họ. Họ sang tạo, ngợi ca những cái đẹp trong gia phả của họ như cái kiểu nhà văn hoá lớn của Pháp đã từng ca ngợi họ. Họ giữ được những nét dân gian truyền thống và độc đáo khiến các nghệ sĩ mới thời nay phải kính nể. Và do đó, chúng ta có thể tự hào về nghệ thuật tạo hình của họ.
3. Vài nét về kĩ thuật thể hiện
– Đóng cọc căng dây dưới đáy ao như thế nào ?
Thông tường múa rối nước cổ truyền diễn ra ở ao.
Khán giả ngồi 3 mặt, một mặt bên ao dành cho nhà rối. Mặt nước trước nhà rối là sân khấu, nơi hoạt động của các con rối.
Đối với trò sào, tức con rối được đính trên đầu sào thì người điều khiển chỉ có việc cho con rối lách từ trong mảnh mành len ra hoặc ấn con rối xuống nước rồi cho trồi lên.
Đối với trò dây hay trò máy, củi, thì phải đóng cọc căng dây gài máy, đặt củi trước mà người ta gọi là máy ngầm… máy dây, máy dọc, bàn máy hay củi. Trước khi có cuộc biểu diễn người ta theo sơ đồ đóng cọc để đóng những cọc gỗ sẵn dưới đáy ao, bố trí trước đường đi lối lại của con rối – khoảng cách con rối, giữa con rối và người điều khiển căng dây thép và dây thừng thật chặt thật căng, đặt đúng chỗ cần thiết cho diễn xuất. Đó là những bộ máy cố định đặt sẵn lúc nào cần thì dùng đến. Có khi vì ao quá sâu phải tát bớt hoặc làm cạn hẳn nước đi, mới đóng cọc hoặc đặt các bộ máy dễ dàng được. Loại này ta thường thấy ở các tiết mục Bật cờ, Đánh đu, Bát tiên, Kéo quân… Việc bố trí đóng cọc và đặt máy phải có 1 sự tính toán khéo léo, thông minh làm thế nào cho khi diễn để đường dây khỏi loạn xạ, con rối không vướng vào nhau. Nhiều tiết mục rất rắc rối, người xem không hiểu cách bố trí dây dưới nước thế nào mà con rối đi lại ngang dọc xuôi ngược tài tình thế.
Cọc gỗ đóng nhầm dưới nước phải là trechắc hoặc các loại gỗ thật tốt. Tuỳ theo ao nước nông sâu mà đóng cọc cao hay thấp. Ở Đông Bình hiện nay còn một số cọc gỗ từ trước không ai được phép gỡ chúng lên.
Một hệ thống dây có đính con rối được mắc theo những cọc này.
Muốn khi kéo được trơn và nhẹ, người ta còn mắc them dòng rọc. Bố trí rối đi theo cọc và các đường dây trên máy dây. Ngày xưa các phường rối bằng mọi giá, giữ gìn hết sức bí mật, cố tìm hiểu cho được cách bố trí đóng cọc mắc dây của nhau. Không phải dễ dàng mà ta vẽ được một sơ đồ đóng cọc thông thường của một phường rối.
– Bàn máy hay củi
Ở các bộ máy đặt sẵn dưới nước, ta thấy có bộ máy hoặc củi dung cho tiết mục như Bát tiên, Múa sư tử… Ở loại máy này người ta bố trí hẳn một cái khung cửi to gần bằng cái giường một, đặt sẵn dưới nước. Những con rối được lắp trênnhững trục hay bộ phận mà người trong buồng trò có thể cho đi tới lui, múa, quay, đi ngược chiều nhau bằng cách giật dây so le chạy qua những cột xoay như ống chỉ.
Có dây điều khiển hoạt động riêng từng bộ phận hay từng quân rối, có dây sử dụng chung cho nhiều cử động như ở trò Cầu quất tay đưa lên thì chân cũng đưa lên.
Những khung củi hay bàn máy này có thể thay lắp quân rối diễn trò khác nhau. Muốn cho khung không nổi lên mặt nước người ta dằn gạch đá đặt trên một cái mẹt hoặc cót.
Tuỳ từng bộ máy để đặt sát aohoặc treo lửng lơ dưới mặt nước.
– Máy dây
Có những con rối theo bố trí của máy dây có thể đi xavà trở vể hang chục thước và theo bố trí của máy, bàn củi thì điều khiển được một lúc nhiều quân rối (2-8 con rối và có thể làm nhiều hơn nữa) nhưng loại bộ máy này cồng kềnh phức tạp di chuyển nặng nề khó khăn, dần dần được cải tiến cho nhẹ hơn, gọn hơn hay dung phương cách khác để điều khiển như máy sào.
– Các loại máy sào
Ở các loại máy sào, con rối được đình ở một đầu của sào và người điều khiển cầm đầu sào kia cho tay ngầm dưới nước mà khua khoắng theo ý muốn.
Sào bằng tre tầm vông hay bằng gỗ lõi thật rắn chắc, vót thật thẳng, to vừa cầm tay dài 2-3 m đổ lên sơnmàu đen hoặc xanh thẫm cho tiệp màu nước.
Có nhiều loại máy sào :
¬
- Loại máy sào, không dây, không bánh lái.
- Loại máy sào, không dây, có bánh lái.
- Loại máy sào, 2 sào, không dây.
- Loại máy sào, có dây.
- Loại máy sào có 3 sào, có que thép nơi tay.
4. Người biểu diễn múa rối điều khiển con rối như thế nào ?
Sân khấu rối nước truyền thống chính xác là các ao hồ. Người biểu diễn đứng trong nước đằng sau một tấm mành tre khiến người xem không nhìn thấy họ. Từ sau tấm mành họ dùng các máy dây giấu dưới nước để điều khiển con rối. Một phần họ tận dụng sức nước để lái và làm cho con rối nổi, phần thì dùng tay điều khiển các máy dây. Nhờ vậy mà họ có thể làm cho các con rối xuất hiện hay biến đi rất nhanh.
Các thành viên phường rối Hồng Phong ở làng Bồ Dương, xã Ninh Thọ, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương cho biết là trước đây họ chỉ điều khiển con rối bằng máy dây. Máy dây có lợi thế là người biểu diễn có thể điều khiển các con rối cách xa bức màn tre hàng chục mét. Ngược lại máy sào chỉ có thể điều khiển các con rối ở tầm ngắn hơn.
Các thành viên phường rối Đông Các, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình chủ yếu sử dụng các máy sào làm bằng gỗ nghiến tuy nặng nhưng bền. Các cây sào dày 2 cm, đường kính 5 cm , được chia thành các phần dài một đến hai mét. Mỗi phần lại có các lỗ để bắt vít nối vào với nhau. Máy sào không chịu sức cản của nước, mà trái lại tận dụng sức đẩy của nước mỗi khi di chuyển theo phương thẳng đứng.
Tuy nhiên dùng sào gỗ để điều khiển rối không linh hoạt bằng một thiết bị tương tự nhưng được làm bằng tre. Các thanh tre được nối với nhau bằng dây thừng nên nhẹ hơn, cử chỉ duyên dáng hơn và cho phép con rối thực hiện các chuyển động phức tạp hơn. “Dù cỗ máy điều khiển có tinh xảo đến mức nào”, nghệ sĩ múa rối Phạm Viết Viêm nói “con rối vẫn vô hồn nếu người biểu diễn thiếu tình cảm. Đối với chúng tôi, con rối cũng là những diễn viên thực thụ, giống như con người.”




,lâu lắm hông có post bài gì trong này hết hì hì. Có nghiên cứu trong các cuốn sách "Nghệ thuật rối nước" của Tô Sanh , "Rối nươc FAQ" của Hữ Ngọc và Lady Borton, sưu tầm từ internet
Trả Lời Với Trích Dẫn


Bookmarks