PDA

View Full Version : Truyện ma truyền kỳ .



Camay
24-08-2004, 06:17 PM
Những Ngôi Nhà Có Ma


Hai vợ chồng Albert và Ivy Cardwelll muốn dọn đến ở tại một chung cư mà họ thích tại Rotherham ở miền Nam Yorkshier (Anh Quốc). Hôm đó nhằm tháng 7 năm 1986, hai người đã cảm thấy có sự dị thường nơi dãy phòng họ Ở. Ban đêm, họ nghe tiếng kọt kẹt có vẻ dè dặt rồi như có tiếng chân đi và tiếng gõ cửa ở phòng ngoài, ngay nơi phòng ngủ chính. Tiếng động ấy làm nhiều người nghe rõ nhưng bà Cardwell lại là người độc nhất thấy rõ một hình ảnh lạ lùng ghê sợ. Bà thấy một "con ma" xuất hiện trước mặt, đó là người đàn bà và bà ta biến mất ngay khi bà Cardwell có ý định chỉ cho chồng thấy cảnh tượng lạ lùng này.



Không phải hình ảnh ma luôn luôn hiện ra mờ ảo mà trái lại đôi lúc giống như một người sống. Tại Dunstable, ở Bedfordshire (Anh) có một ngôi nhà cổ mà dân quanh vùng không dám lại gần vì nhiều người đã thấy ở đó, hàng đêm xuất hiện một con ma đã già, mặc bộ đồ đen bạc màu thời đại Nữ Hoàng Victoria có nút đính khuy vàng nổi trên cổ áo. Đây không phải là một bóng ma mờ ảo mà trái lại hiển hiện như người thật. Năm 1966, vào mùa hè, con ma xưa cổ này lại xuất hiện một lần nữa ngay ở khung cửa lớn của ngôi nhà nhìn xuống đồi.



Một nhóm nghiên cứu về các hiện tượng ma quái đã đột nhập ngôi nhà cổ để quan sát và đã khẳng định rằng: hằng đêm khoảng 7 giờ đến 8 giờ tối, con ma già xuất hiện thường nhất là ở ngay phòng ngủ. Gương mặt mờ xám nhưng không có vẻ gì dễ sợ tuy nhiên những người có mặt cảm thấy rợn tóc gáy. Luôn luôn "con ma" đứng ngay giữa phòng, tóc màu xám tro rũ xuống trước trán. Vừa lúc đó, con chó Lassie chạy ngang, lúc bước qua trước mặt "con ma già" nó rên rỉ một tràng dài não ruột như bị một luồng điện chạy qua cơ thể nó.



Qua nhiều cuộc điều tra tỉ mỉ, người ta biết được ngôi nhà này ngày xưa chủ nhân sống cô độc và sau này phát điên rồi chết, người chết ấy chính là con ma thường đêm xuất hiện ngay nơi phòng ngủ của ngôi nhà cũ hoang vắng này...



Tại một vùng hoang vắng ở California (Hoa Kỳ) có một nhà gạch, ngôi nhà này được hai vợ chồng Frandes Little mua lại vào năm 1968. Chỉ sau vài tuần dọn đến ở, người chồng bỗng thấy một người đàn bà lầm lũi đi quanh nhà như muốn tìm kiếm một cái gì, khi nhìn kỹ gương mặt, người chồng bỗng kinh ngạc vì đó là người vợ trước của mình.



Sau đó, bà Little (người vợ sau) một hôm đang ở nhà một mình bỗng đêm ấy thấy có một người đàn bà cao mảnh khảnh tự nhiên không biết từ đâu lững thững đi ra từ sau căn phòng một cách yên lặng và tiến vào phòng ngủ. Tại đây, người đàn bà này có vẻ tần ngần do dự trong bước chân đi nhưng không quay mặt về phía bà Littlẹ Rồi bất thần, người đàn bà ấy đi xăm xăm về phía phòng khách, ở vị trí này, bà Little có thể quan sát rõ ràng toàn thể người đàn bà lạ này. Nhanh trí, bà Little vội lấy cái máy ảnh nơi tủ gần chỗ bà đứng và bấm ngay một bức ảnh. Khi đèn lóa lên thì người đàn bà quay lại và sau đó biến mất. Bức ảnh được rửa ra và ông bà Little nhận ra đó là Alice Margaret Kolitisch, người đàn bà đã cùng ông Little xây dựng ngôi nhà nơi hoang vắng này vì lúc đó họ muốn sống một cuộc sống ẩn dật hạnh phúc lứa đôi với nhau. Năm đó là năm 1920.



Một trường hợp khác đặc biệt xảy ra tại một ngôi nhà ở Stockton, nơi vùng ngoại ô của New Castle, New South Wales (Úc Đại Lợi), ngôi nhà vừa được hai người trẻ tuổi và một người cháu gái thuê ở. Chỉ mới hai tuần lễ mà họ đã trải qua nhiều thử thách bởi một năng lực siêu nhiên huyền bí phát sinh quanh nhà và ngay cả trong nhà (từ đầu năm 1970 khi họ dọn đến ở). Trước tiên họ thấy tấm drap trải giường nhàu nát một cách lạ lùng sau mỗi lần họ căng trải cẩn thận, đồ chơi của đứa cháu gái thì di chuyển một cách tự nhiên mặc dù không có ai đụng tay vào, còn cửa lớn thì có tiếng gõ vang dậy một cách dữ dội, khẩn cấp. Điều kỳ lạ là đứa cháu gái nhỏ thường bị một bàn tay vô hình của ai đó nhấc bỗng lên khỏi chỗ nằm hay chỗ ngồi. Những người bạn của hai người trẻ tuổi này thường năng lui tới ngôi nhà này cũng đã chứng kiến nhiện tượng lạ lùng, có người đang ngồi bỗng nhiên có ai lắc đôi vai thật mạnh, có người cảm thấy như có đôi mắt nào đó đang chăm chú nhìn mình một cách quái đản. Micheal và Dianne Cooke, hai người trẻ tuổi thuê nhà đã nói như sau:



- Thường đêm chúng tôi thấy và nghe nhiều điều kỳ dị, ghê rợn nhất là gương mặt trắng bệch hiện ra nơi cửa sổ với đôi mắt trắng dã và con ngươi màu xám tro, chúng tôi phải tính chuyện dọn đi khỏi ngôi nhà quái gỡ kinh khiếp này càng sớm càng tốt...

Tuan12T96
24-08-2004, 06:50 PM
Trời chuyện đọc đâu thấy có Ma Qủy gì đâu

Hung_Sui
24-08-2004, 07:46 PM
Truyện ma có được xếp vào thể loại văn thơ không hả anh Tuấn??? :roll: :roll: :roll: :roll:

Tuan12T96
24-08-2004, 09:22 PM
Xét ở một khía cạnh nào đó thì truyện ma cũng là một thể loại văn học :-D

truong_cu
24-08-2004, 09:59 PM
mọi người coi và nghe truyện ma của ông Ngạn ( dẫn chương trình paris by 9) chưa: em nghe xong thấy giống chuyện cười, audio thì giống hài kịch ấy 8O

hồi nhỏ nghe mọi ngưòi kể chuyện ma, xong kô dám xuống giuong luôn, :oops:

àh, nghe nói ở DL mình nhiều ma lắm đấy, bà con đi chơi cẩn thận nhé 8)

Camay
25-08-2004, 07:07 PM
Hình Ảnh Của Đoàn Quân Quá Khứ


<span style='color:blue'>Cho đến nay, các nhà địa chất, các nhà sử học, cổ sinh vật học, môi trường học, các nhà nghiên cứu về địa cầu vật lý, các nhà khoa học... đều công nhận rằng trên hành tinh của chúng ta vẫn còn vô số hiện tượng kỳ lạ mà khoa học chưa giải thích được. Nhiều sách vở tài liệu nghiên cứu từ cổ đại đến nay đã ghi nhận nhiều sự kiện lạ kỳ. Chẳng hạn như các địa điểm thường sẩy ra hiện tượng quái lạ, bí hiểm hiện vẫn còn nhiều trên thế giới đã thu hút hàng ngàn khoa học gia đến nghiên cứu nhưng lời giải thích thì vẫn còn mơ hồ; những hiện tượng lạ kỳ ở Úc, ở Ái Nhĩ Lan, ở Péru, những vùng đất huyền bí ở Nam Mỹ, ở Ai Cập, những địa điểm huyền bí như ở Tích Lan, Ấn Độ, ở Loe Bar, Newgrange và cả vùng bí hiểm Atlantic nữa...



Trường hợp điển hình nhất là vấn đề đoàn quân ma xuất hiện ở vùng đất Loe Bar:



Một buổi trưa tháng 8 năm 1936, Stephen Jenkins sáu mươi tuổi nhà nghiên cứu địa chất thường tới vùng Loe Bar, một địa điểm thuộc vùng bờ biển Cornish. Trong khi Jenkins đang chăm chú theo dõi các vùng đất thì bỗng nhiên ông ta vô cùng kinh ngạc khi thấy phía trước mặt mình một đạo quân thuộc thời Trung Cổ xuất hiện. Quân phục của họ chứng tỏ họ đang trải qua những cuộc chạm trán trong trận mạc. Các chiến sĩ mặc áo đủ màu và khoác loại áo choàng không có tay màu trắng, màu đỏ và màu đen. Ngựa của họ có tấm che phủ với đầy đủ yên cương và những thứ trang sức cho ngựa. Một người lính đứng giữa đội quân, hai tay chống kiếm, mình khoác áo choàng màu đỏ tía đang quắc mắc nhìn chăm chăm về phía Jenkins đứng.



Vừa lạ lùng vừa kinh ngạc, Jenkins, với tính tò mò, gan dạ và thích mạo hiểm, đã không ngần ngại tiến về phía đoàn quân. Nhưng hành động ấy đã làm toàn thể đạo quân thời Trung Cổ biến mất tức thì. Jenkins giật mình ngơ ngác và tưởng mình vừa trải qua một giấc mợ Ông kể lại chuyện này cho người vợ nghe và họ đã ghi vào nhật ký hiện tượng lạ lùng này. Thế rồi, 38 năm sau, ông Jenkins đã chọn đúng vào ngày mà cách đó 38 năm ông đã trông thấy điều kỳ lạ để cùng với vợ đến ngay địa điểm mà ngày xưa ông đã đứng.



Hai vợ chồng lên đường với bức họa đồ ghi địa điểm của trước đây Jenkins đã đứng thì lạ lùng thay hình ảnh đoàn quân thời Trung Cổ hiện ra lần này còn rõ ràng hơn lúc trước. Mặc dầu trước đó bà Jenkins không tin chuyện chồng mình kể nhưng lần này bà thấy rõ ràng điều mà bà không thể tin được. Đoàn quân với sắc phục rực rỡ, cờ xí, ngựa và gươm giáo dàn ra trước mắt mình, bà sợ quá níu chặt lấy cánh tay chồng và cố dụi mắt vì cứ tưởng mình nằm mơ.



Khi tường trình sự việc này cho một nhóm nhà khoa học, ông Stephen Jenkins đã nói như sau:



" Nếu lúc đó vài người trong quý vị có mặt với chúng tôi thì có lẽ lời trình bày này sẽ nặng cân hơn và có giá trị đứng đắn trung trực hơn... "



Nhiều giả thiết đã được nêu ra để giải thích cho hiện tượng này. Theo sự giải thích của chính Stephen Jenkins thì có thể đạo quân ma này thường xuất hiện ngay nơi vùng Cornish và con người may mắn thấy được là do một năng lực tinh thần nào đó phát nguồn từ một giao điểm (node).



Loe Bar vẫn còn đó nhưng nơi mà năm 1936 cũng như năm 1974, Jenkins đã đứng sẽ không nhất thiết luôn luôn đều thấy được hiện tượng kể trên vì còn tùy thuộc vào môi trường, khí hậu, tầm nhìn và nhất là tùy vào từng con người đứng nơi địa điểm ấy. Điều này, mới nghe qua có vẻ không hợp lý nhưng theo Janet và Collin (hai nhà nghiên cứu về hiện tượng siêu hình, ma quái) thì đó là vấn đề cần phải đặt ra. Hai nhà nghiên cứu này đã ghi nhận một trường hợp về "hồn ma" xuất hiện vào năm 1904.



Tháng ba năm ấy, một toán học sinh được thầy giáo dẫn đi du khảo. Họ leo lên ngọn đồi Marlpit gần Honiton. Tất cả các học sinh hôm đó đều trông thấy một người đàn ông khoác áo choàng màu nâu và đội mũ rộng vành màu đen. Toàn thể con người và gương mặt u ám như phủ một màn sương khói. Theo tài liệu của Collin thì đó là hồn ma ấy đã được ghi nhận (tài liệu thư viện) từ năm 1685. Người đàn ông này là một trong những người trốn chạy từ trận đánh ở Sedgemoor vào năm 1685 và sau đó đã bị quân địch giết chết. Nhà anh ta ở ngay trên đồi Marlpit.



Tuy nhiên, điều kỳ lạ là tất cả các học sinh trong chuyến du khảo ấy đều thấy (người đàn ông trong quá khứ ấy) nhưng thầy giáo dẫn các học sinh thì tuyệt nhiên không thấy gì cả.</span>
Những thông tin trên hoàn toàn trung thực 100 %

Camay
26-08-2004, 05:18 PM
Hồn Ma Bóng Quế, Hư Hay Thật?


Ma luôn luôn là hình ảnh ám ảnh loài người, mặc dù nhiêu người không tin có ma nhưng trong tâm trí họ vẫn có sẵn một dạng thể nào đó về cái mà họ cho là "ma".



Nhà tâm lý và phân tâm học thường cho rằng sở dĩ như thế là do con người khi lớn lên đã hấp thụ vào bộ não những hình ảnh liên hệ đến ma quỷ qua các chuyện cổ tích, chuyện thường ngày, báo chí, lời đồn đại v.v... Theo Janet và Collin Bord, hai nhà nghiên cứi nổi tiếng của Hoa Kỳ về các hiện tượng ma quái lạ lùng đã chú tâm theo dõi ở các hài nhi mới sanh hay được hai ba tuổi về những gì chúng nó có thể biểu lộ qua những cử chỉ, ánh mắt do ảnh hưởng của những hiện tượng siêu nhiên hay "ma quái" từ môi trường ngoài tác động lên chúng. Lý do là những trẻ con quá nhỏ ấy chắc chắn chưa bao giờ có ý niệm về ma quỷ. Trong cuốn sách viết về các hiện tượng siêu hình nhan đề Ghosts and Haunting, hai nhà nghiên cứu Fanet và Collin đã ghi lại một dự kiện lạ lùng như sau về cháu bé lên ba tuổi tên là Walter Landry sống ở Cambridge, Massachusetts.



Khi cháu bé vừa tròn 3 tuổi thì mẹ cháu qua đời (tháng 5 năm 1906). Trong khi người dì và một cô mụ lo việc mai táng tẩm liệm thì cháu bé bỗng nhiên kêu thét lên, mọi người chạy bổ tới, đứa bé vừa chỉ tay về phía trước mặt vừa kêu:



"Hãy nhìn kìa&#33; Bà ấy đó&#33; Bà tới đó&#33;.." Cô mụ hỏi lớn:



"Bà nào? Cháu nói bà nào vậy?" Đứa bé vừa rên rỉ vừa trả lời:



"Mẹ cháu đó&#33;" , vừa đưa tay chỉ về phía cửa.



Mọi người nhìn theo thì lạ lùng vô cùng, một bóng mờ như chuyển động xuyên qua khỏi căn phòng. Sau đó, đứa bé kể lại là đã trông thấy người mẹ mình lướt tới và cố tình tìm cách ôm con mình vào đôi cánh taỵ Điều kỳ lạ đáng lưu tâm là tại sao với tuổi nhỏ như thế, đứa bé chưa ý thức gì về ma quỷ, nếu có thấy hình ảnh mẹ mình như đã kể thì đáng lý ra phải vui mừng hoặc tự nhiên nhưng tại sao lại tỏ ý lo sợ, kêu thét lên một cách kinh hoàng như thế. Có phải người mẹ ấy đã tiến đến gần con trong một dạng thể không còn bằng xương bằng thịt như khi còn sống? Một hình ảnh phảng phất nét lạ kỳ rùng rợn nào đó chăng? Tuy nhiên qua câu chuyện có thật trên, dù sao cũng chỉ có bé Walter Landry là có thể coi như đã thấy rõ những gì gọi là "Ma" mà thôi.



Thật ra, từ xưa đến nay, vô số báo cáo, tường thuật về vấn đề hồng ma bóng quế, nhiều hiện tượng nghiên cứu về ma được bổ sung thêm ngày càng nhiều cho các viện nghiên cứu về các hiện tượng không giải thích được. Sự kiện sẩy ra vừa mô tả trên về bé Walter Landry chỉ là một thí dụ hết sức nhỏ nhặt trong hàng vạn thí dụ có thật khác đã xảy ra trên khắp thế giới. Có nhiều trường hợp ma xuất hiện rõ ràng và nhiều người đã thấy, có khi chứng có còn được giữ qua lại trong hình ảnh chụp được, ma xuất hiện ở những lâu đài cổ, những ngôi nhà v..v... Đặc biệt không phải chỉ những ngôi nhà hoang vắng mới có ma mà ngay cả những ngôi nhà có người đang ở cũng thường xảy ra các sự kiện về ma . Ma còn phá phách đồ đạc, bàn ghế, và đôi khi phát ra âm thanh kỳ lạ. Theo các tài liệu lưu trữ tại các thư viện và nhất là tại các thư viện tại viện nghiên cứu về các hiện tượng lạ lùng ở Virginia thì không chỉ hồn ma thể hiện qua hình ảnh người mà đôi khi còn ở cả loài vật. Nhiều tài liệu khác còn ghi nhận sự kiện đặc biệt khác nữa như con tàu ma trên biển cả, những tàu hỏa xe hơi, túp lều, căn nhà, tòa lâu đài, xuất hiện trong sương mù trong đêm khuya rồi sau đó biến mất.



Điều đáng để các nhà nghiên cứu quan tâm là dù tin hay không tin, dù muốn tìm hiểu hay không lưu ý, các hiện tượng gọi là ma quỷ vẫn đã và đang xảy ra, xuất hiện như một hiện tượng thực góp phần hiện hữu dù trong khoảng khắc nào trên trái đất nơi mà hầu như chỉ có những vật hữu hình xuất hiện mà thôi.



Nguyên nhân nào đã phát sinh hiện tượng ma quái thì cho đến nay vẫn còn chưa được giải thích rõ ràng. Giả thuyết phổ thông nhất đã cho rằng ma là sự biểu lộ lại những gì của quá khứ (quá khứ ấy có thể là lâu hay rất mau, chỉ vừa mới xảy ra về những sự kiện đau buồn, tàn khốc, oan ức, tức tưởi v.v... Mối xúc động đã phát sinh năng lực mạnh mẽ và bằng lý do này khác đã in sâu, ghi khắc vào nơi nào đó. Thường đó là nơi xảy ra, đã sảy ra sự kiện. Như người bị xử bắn nơi một bức tường thường hiển hiện lại hình ảnh tàn khốc ấy vào những đêm khuya.



*** Những gì trên đây chỉ là sự suy đoán của các nhà khoa học về vấn đề ma quỷ mà thôi... Tại sao những hình ảnh quá khứ đó lại chỉ hiện vào ban đêm... ?



Một thân xác không còn cử động và tim ngừng đập người ta cho rằng người đó đã chết. Thật sự thân xác của họ chết chứ không phải là linh hồn. Linh hồn con người không bao giờ chết.



Những người được gọi là đã chết , họ chỉ bỏ lại thân xác nặng nề của mình và khoác lên mình một thân xác khác nhẹ nhàng hơn để thích hợp với cõi âm.



Thường thường những người chết họ hay đến những nơi nào mà khi sống họ thường lui tới , và khi chết họ vẫn còn luyến tiếc. Ví dụ như ngôi nhà họ Ở hay là một khu vườn mà ngày xưa họ yêu thích v.v... Cho nên nhiều khi mình nghe nói là căn nhà đó có ma hay là trong khu vườn nào đó đêm đêm người ta thấy có người đi qua đi lại.



Và tại sao mình chỉ thấy ma vào ban đêm. Tại vì họ chỉ có thể hiện hình vào ban đêm vì ban đêm thuộc về khí âm.



Có lẽ mình sợ ma vì mình không thấy họ. Nhưng thật ra họ cũng giống như mình chỉ khác là họ đã bỏ cái thể xác này. B)

tychuot
30-08-2004, 06:01 PM
Nhắc đến ma,ở DL mình cũng có ma vậy.
Bữa trước nghe mọi người đi thăm nhà ma ở đầu đèo nói cái nhà ở phía dưới có tới 4 con ma nữ. Trong đó con ma 19t là thiêng nhất.( do ông bảo vệ nói thế)
Rồi dãy biệt thự chỗ đường Trần Hưng Đạo nữa.
Tychuot cũng bị ma nhát 1 lần rồi. Sợ lắm. :(

Camay
03-09-2004, 05:47 PM
Ma Quá Giang
Nhiều người đi trên đường khuya, vắng đôi khi bắt gặp ma và có khi trông rõ như người thật nên đôi lúc lại không nghĩ rằng mình gặp ma...



Dee Goss, người đã quả quyết mình trông thấy hồn ma đã mô tả lại như sau: "Tôi thấy con ma đội mũ trùm đầu, điều khủng khiếp là không có chân nên trông như lơ lững, trôi nổi dật dờ ngang qua con đường ngay trước mặt chúng tôi. Tôi đã thấy hình ảnh này rất rõ, có thể phân biệt từ chi tiết".



Vào những năm 1976, 1978, hồn ma trên còn được thấy lại nhiều lần trên đường và mới đây một hình ảnh về hồn ma với mũ trùm đầu lại xuất hiện và nhiều người đã thấy rõ ràng ngay trên con đường vòng của xa lộ gần cầu Stocks ở phía Nam Yourkshire (Anh Quốc). Hai người tuần cảnh ban đêm đã thấy một hồn ma với mũ trùm đầu (giống như hình ảnh đã thấy ở nhiều nơi) trên cầu Pearoyd, ngoài ra có đêm một trong hai người lại còn thấy một hình ảnh lạ lùng kỳ dị khi giữa đêm khuya thanh vắng bỗng có ba đứa bé im lặng nhảy múa quanh cột điện cao thế.



Trong Modern Mysteries of Britain còn ghi nhận những sự kiện đáng lưu ý về hồn ma xuất hiện trên đường, ở đây có sự khác biệt và linh hoạt hơn. Ấy là ma đón đường và xin quá giang (người Mỹ và người Anh thường gọi là Phantom Hitch Hiker). Sau đây là vài trường hợp có thật xảy ra :



Năm 1951, tại Lakenheath, căn cứ không quân ở Suffok, một cảnh sát đã lái xe quanh căn cứ vào ban đêm và đã thấy một phi công trong bộ quân phục xuất hiện giữa đường và làm hiệu muốn quá giang xe. Người cảnh sát dừng xe lại để cho viên phi công bước lên. Viên phi công này xin mồi lửa điếu thuốc, một khi ngọn lửa từ hộp quẹt lóe lên thì viên phi công biến mất, người cảnh sát kinh ngạc và rợn tóc gáy khi thấy cái ghế ngồi trong xe, nơi mà viên phi công vừa ngồi trống rỗng một cách dễ sợ. Về sau, qua cuộc điều tra, người ta được biết ở góc căn cứ này trước đã xảy ra một tai nạn thảm khốc, một chiếc quân xa đã đâm sầm vào một viên phi công trẻ tuổi đang trên đường đi bộ đến căn cứ. Nhìn ảnh chụp người lính Không Quân này, người cảnh sát lái xe đêm ấy đã khẳng định rằng đó chính là người đã xin quá giang và đã biến mất sau đó.



Trường hợp tương tự cũng đã xảy ra tại Oklahoma (Hoa Kỳ) vào mùa đông năm 1965. Lúc đó cô Mae Doria đang lái xe chạy trên xa lộ 20 hướng đông của đường Claremore thì gặp một cậu bé trạc độ 12 tuổi đứng bên đường đưa tay khoác khoác ra dấu chận xe lại, Mae hỏi cậu bé muốn về đâu, cậu bé đưa tay chỉ về phía trước và nói: "Nhà cháu ở đầu kia kìa". Cô Mae để cậu bé ra ngồi ở ghế sau, họ nói chuyện với nhau cho đến khi xe đến gần Pryor thì cậu bé ngỏ ý muốn xuống xe ở vị trí cống nước lớn gần đó. Khi đó Mea chạy xe chậm lại, cô lấy là lạ vì vùng này chẳng có nhà cửa gì cả còn cây cối thì lưa thưa, có nơi trơ trụi hoang vu vắng vẻ vô cùng. Khi đó, Mae Doria hỏi cậu bé: "Nhà cháu ở đâu?" cậu bé lại chỉ tay về phía trước và trả lời: "Nhà cháu ở đầu kia kìa&#33;". Cô Mae Doria quay mặt về hướng mà cậu bé vừa chỉ nhưng chẳng thấy nhà cửa nào ngoài vùng đồng trống. Cô ngạc nhiên quay lại thì không thấy cậu bé ở trong xe nữa. Qúa kinh ngạc cô vội ngừng xe lại. Vậy cậu bé ra khỏi xe khi nào? Cô Mae Doria cảm thấy hoang mang, cô cứ nghĩ là cậu bé đã nhảy ra khỏi xe rồi nhưng tại sao cửa xe vẫn còn đóng chặt? Cô lái xe chạy quanh nhiều vòng nơi vùng đồng trống cạnh xa lộ nhưng vô ích, hình bóng cậu bé vẫn biệt tăm... Điều kỳ lạ là lúc ấy cô không cảm thấy điều gì khiến phải lo sợ hay kinh hãi cả. Nhưng sau đó cô mới cảm thấy rờn rợn trong người.



Hai năm sau, nhân lúc rảnh rỗi, gặp người đi thu tiền hơi đốt, cô Mae Doria kể cho anh ta nghe chuyện liên hệ đến việc cô gặp cậu bé quá giang và biến mất một cách lạ lùng ngày nào thì người này cho biết cậu bé mà cô gặp đã chở đi một đoạn đường là chuyện có thật và nhiều người lái xe qua đó cũng đã gặp trường hợp tương tự nghĩa là cậu bé xuất hiện xin quá giang xe về nhà nhưng nửa đường thì biến mất. Người đi thu tiền hơi đốt nói:



- "Tôi đã nghe chuyện về cậu bé này từ lâu. Đó chính là một hồn ma và sự việc này xảy ra từ lâu rồi, từ năm 1936 chớ không phải mới đây... "

congacon
04-09-2004, 05:43 AM
tychuot Gửi vào Aug 30 2004, 09:01 PM
Tychuot cũng bị ma nhát 1 lần rồi. Sợ lắm.
Chuyện tychuot bị Ma nhát hấp dẫn vậy ,kể cho mọi người nghe với đi .Riêng mình thì từng một lần nghe tiếng khóc ,chẳng biết sao theo cảm gíac mà chạy trối chết :cuoilan: :cuoilan:

Hung_Sui
04-09-2004, 12:05 PM
Anh đang định làm một phóng sự về chuyện ma của tý chuột đấy mà. Bà con đợi coi nhé. :crazy: :crazy: :crazy: :crazy: :crazy: :crazy: :crazy: :crazy:

tychuot
09-09-2004, 05:26 PM
Cha, coi bộ nhiều người thích truyện ma qúa ta. Thế thì em với anh Hùng phải làm 1 bài về vụ này mới được. Mọi người chờ nghe.

Hung_Sui
10-09-2004, 10:02 PM
Cha, coi bộ nhiều người thích truyện ma qúa ta. Thế thì em với anh Hùng phải làm 1 bài về vụ này mới được. Mọi người chờ nghe.

===> Tất nhiên rồi, vì trên đời này đã có mấy ai bị ma nhát như em đâu?? :nonono: :nonono: :nonono:

khungbotumlumtele
10-09-2005, 03:34 PM
Quỷ trên otô

Hoạ vô đơn chí, chuyện rủi thường chồng chất lên nhau. Tất nhiên, người ta nói chung chung thế khi cần an ủi người khác. Nhưng thực tế, nếu chính mình gặp nhiều chuyện rủi chồng chất lên nhau thật, thì không còn là chuyện chung chung nữa rồi. Chẳng hạn cùng lúc với chuyện lạc nhau không gặp được cô gái mình đã hẹn trước, lại bị đứt nút áo vét-tông, trên tàu điện lại gặp người quen mà mình chẳng muốn gặp, răng đau lại bắt đầu hành, mưa lại bắt đầu rơi, lên xe taxi lại gặp lúc đường kẹt vì có tai nạn đâu đấy. Lúc ấy mà có tên nào an ủi: Hoạ vô đơn chí, chuyện rủi thường chồng chất lên nhau, thì hẳn là tôi sẽ đấm hắn ngã ra đấy ngay.

Mà chẳng cứ gì tôi, chính bạn cũng thế thôi.

Chuyện nói chung chung kết cuộc là như thế chứ gì.

Bởi vậy, thật khó mà sống chung với người khác. Đôi khi tôi nghĩ phải chi mình cứ sống như là tấm thảm chùi chân trước cửa, suốt đời trơ trơ ra thế thì tuyệt vời biết mấy. Thế nhưng, nghĩ cho cùng thì trong thế giới của các tấm thảm chùi chân, có lẽ cũng có chuyện nói chung chung mà gây ra khổ não như thế chứ không sao. Mà thôi, đúng thế hay không đúng thế cũng chẳng sao cả.

Dù sao thì lần ấy, tôi đã bị nhốt trong xe taxi trên con đường đang kẹt xe. Mưa thu rơi thành tiếng lộp độp trên mui xe. Mỗi lần máy đếm tiền trên taxi tăng số, lại nghe xạch một tiếng như tiếng đạn bắn ra từ miệng loa súng săn đâm xuyên qua não tôi. Chán thật. Thêm nữa, lại là ngày thứ ba tôi nhịn thuốc lá. Tôi cố nghĩ ra chuyện gì vui vui cho qua, nhưng chẳng nghĩ ra được gì. Không làm sao hơn, tôi đành nghĩ đến chuyện cởi áo quần đàn bà theo thứ tự nào. Trước nhất là mắt kính, rồi đồng hồ đeo tay, vòng đeo tay, sột soạt, rồi...

"Ông khách ơi". Đột nhiên, anh lái taxi gọi. Đúng lúc tôi lê đến chỗ cởi nút đầu tiên trên áo sơ-mi. "Ông có tin quỷ hút máu có thật hay không?"

"Quỷ hút máu gì kia?" Tôi giật mình, nhìn mặt anh lái xe trong kính chiếu hậu. Anh ta cũng nhìn lại tôi trong kính chiếu hậu. "Quỷ hút máu anh muốn nói là thứ hút máu người ta…"

"Đúng thế. Ông có tin là có thật hay không?"

"Anh không định hỏi về chuyện hiện sinh của quỷ hút máu, hay quỷ hút máu như một ẩn dụ, hay loài dơi hút máu, hay quỷ hút máu trong truyện khoa học giả tưởng, gì gì đấy, mà anh hỏi ngay đến quỷ hút máu đấy chứ?"

"Tất nhiên". Anh ta nói, cho xe nhích lên độ 50 cm.

"Thế thì tôi không biết". Tôi nói. "Không biết thật đấy".

"Đâu phải chuyện biết hay không biết. Ông có tin là có thật hay không. Ông trả lời cho là có tin hay không tin, thế thôi".

"Không tin". Tôi nói.

"Ông không tin là quỷ hút máu có thật?"

"Không tin".

Tôi rút trong túi áo ra một điếu thuốc gắn lên miệng, không châm lửa, chỉ lấy môi ngậm và đẩy tới lui.

"Thế ma thì sao? Ông có tin không?"

"Ma thì tôi có cảm giác hình như có".

"Cảm giác thôi thì chẳng rõ ràng gì. Ông có thể trả lời rõ ràng là tin hay không tin không?"

"Tôi tin là có".

"Ma thì ông tin là có đấy nhỉ?"

"Đúng thế".

"Còn quỷ hút máu thì không tin là có?"

"Không tin".

"Thế thì ma và quỷ hút máu khác nhau ở chỗ nào, thưa ông?"

"Ma, nghĩa là phản đề của thể xác có thực". Tôi nói càn. Nói quấy quá cho xong là sở trường của tôi.

"Hừm".

"Còn quỷ hút máu là sự hoán chuyển giá trị của thể xác".

"Như ông nói, phản đề thì chấp nhận được, còn hoán chuyển giá trị thì không thể chấp nhận được, phải thế không?"

"Nếu chấp nhận cả những thứ phức tạp thế, thì không biết đến đâu mới dứt được".

"Ông khách là người trí thức đấy nhỉ."

"Ha ha ha, cũng đã bảy năm Đại học đấy".

Anh lái xe vừa ngắm hàng xe liên miên không dứt ở phía trước, vừa quẹt lửa châm vào điếu thuốc lá thon nhỏ ngậm trên môi. Mùi bạc hà phảng phất trong xe.

"Nhưng mà, nếu quỷ hút máu có thực, thì ông làm sao?"

"Chắc là chịu thua thôi".

"Chỉ vậy thôi sao?"

"Không được sao?"

"Đâu có được, ông. Niềm tin là thứ cao hơn thế chứ. Tin là có núi, thì có núi. Tin là không có núi, thì không có núi, kia mà".

Nghe cứ như là câu hát cũ kỹ của Donovan vậy.

"Thật vậy sao?"

"Thật vậy chứ".

Tôi thở dài, vẫn ngậm trên môi điếu thuốc lá chưa châm lửa.

"Thế anh có tin là có quỷ hút máu không?"

"Tin chứ".

"Vì sao?".

"Có vì sao đâu. Vì tin là có thôi".

"Chứng minh được không?"

"Niềm tin và chứng minh đâu có quan hệ gì với nhau".

"Nói thế cũng được".

Tôi chán nên quay lại chuyện cởi nút áo sơ-mi đàn bà. Một nút, hai nút, ba nút, …

"Mà chứng minh cũng được chứ". Anh lái xe nói.

"Thật không?"

"Thật chứ".

"Chứng minh thế nào?"

"Thì chính tôi là quỷ hút máu đây mà".

Cả hai im lặng một hồi. Từ đầu đến giờ, xe chỉ nhích đâu được 5 thước. Mưa vẫn rơi thành tiếng lộp độp trên mui xe. Máy đếm tiền thì đã đếm quá 1500 Yen. (1)

"Anh cho tôi mượn hộp quẹt được không?"

"Mời ông".

Tôi nhận lấy hộp quẹt Bic màu trắng từ tay anh lái xe, châm lửa điếu thuốc, và sau ba ngày nhịn hút, đã lại cho chất ni-cô-tin vào trong phổi.

"Kẹt xe ghê quá nhỉ?". Anh lái xe nói.

"Thật chán". Tôi nói. "Nhưng nầy, chuyện quỷ hút máu ấy mà …"

"Sao ông?"

"Có thật là quỷ hút máu không đấy?"

"Thật chứ. Nói láo với ông mà làm gì?"

"Ừm, vậy chứ thành quỷ hút máu từ lúc nào?"

"Đâu từ chín năm về trước. Nhớ thế vì đúng vào năm Thế Vận Hội Munich".

"Khoảng ấy có khẩu hiệu Thời gian ơi ngừng lại, bởi em đẹp tuyệt vời đấy nhỉ".

"Đúng đấy, đúng khẩu hiệu ấy đấy".

"Cho hỏi một câu nữa, được không?"

"Được chứ, được chứ".

"Rồi sao lại lái taxi thế?"

"Bởi không muốn bị ràng buộc bởi thông-niệm quỷ hút máu đấy mà. Cứ mặc áo choàng vào, ngồi trên xe ngựa, sống trong lâu đài mãi thôi thì không tốt đâu. Tôi thì vẫn nạp thuế, đăng ký con dấu đàng hoàng. Disco cũng đi, trò búng đạn cũng chơi. Ông nghe có kỳ dị không?"

"Không, không, có gì kỳ dị đâu. Nhưng mà, có gì đấy không rõ ràng …".

"Chắc là ông khách không tin?"

"Sao?"

"Ông không tin tôi là quỷ hút máu chứ gì?"

"Tin chứ, tin chứ". Tôi hốt hoảng nói. "Tin là có núi, thì có núi, đấy mà".

"Nếu thế thì được".

"Thế, thỉnh thoảng vẫn hút máu đấy nhỉ".

"Cái đó thì vẫn có, quỷ hút máu mà".

"Nhưng mà, máu thì cũng có thứ ngon, thứ không ngon, chứ nhỉ?"

"Có đấy. Như ông khách đây thì không ngon lành gì. Vì hút thuốc lá nhiều quá".

"Đã kiêng hút được mấy ngày đấy chứ, nhưng quả là không được rồi".

"Hút máu thì nói gì cũng không qua các cô gái trẻ. Cứ ngọt lịm đi ấy".

"Cũng dễ hiểu thôi. Ví dụ các tài tử thì cô nào là ngon?".

"Kishimoto Kayoko có vẻ ngon lành. Shingyoji Kimie cũng được. Chỉ có Momoi Kaori (2) thì tôi không ham. Đại khái thế".

"Hút máu các cô ấy được thì tốt quá nhỉ".

"Đúng thế".


° ° °

Mười lăm phút sau thì ai đi đường nấy. Tôi mở cửa phòng mình, bật đèn, lấy bia trong tủ lạnh ra uống. Rồi điện thoại cho cô gái đã hẹn mà không gặp. Nghe cô nói thì hiểu ra là không gặp nhau cũng có lý do chính đáng.

"Mà em nầy, tạm thời nếu có gặp xe taxi nào màu đen mang bảng số Nerima thì đừng đi nhé".

"Sao thế?" Cô hỏi.

"Vì anh lái xe là quỷ hút máu đấy".

"Thật sao?"

"Thật chứ".

"Lo cho em đấy à?"

"Tất nhiên rồi".

"Xe taxi màu đen mang bảng số Nerima à?"

"Ừ".

"Cảm ơn anh".

"Không có chi".

"Anh ngủ ngon".

"Em ngủ ngon".
__________________

khungbotumlumtele
10-09-2005, 03:35 PM
Tiếng gào trong đêm..

--------------------------------------------------------------------------------

Ghe chòng chành giữa dòng nước, tôi sợ hãi ngồi bám chặt mạn thuyền, mắt láo liên nhìn trời đêm sáng lờ mờ ánh trăng mười chín. Chúng tôi ngồi dồn đống trong khoang thuyền. Hai tên đàn ông to người chèo ghe gõ nhẹ trên mui báo hiệu đã đến nơi tạm an toàn, chúng tôi có thể cử động đôi chút. Người chèo mũi vén tấm lá che mui nhìn vào.

"Bây giờ mình phải đi bộ một khoảng, tui dẫn hai người một lần. Chia ra để khỏi lộ. Mấy người khác cứ ngồi đợi đến phiên, nhớ đừng nói chuyện lớn tiếng."
Hắn dẫn hai người đàn bà ngồi sát cửa mui đi trước. Cả đám ngồi đợi ẩn nhẫn. Tim tôi chưa hết hồi hộp đập thình thịch thể như bất cứ người nào ngồi gần cũng đều có thể nghe được nhịp ấy. Phong nắm tay tôi. Tay Phong đẫm mồ hôi và lạnh. Tôi phải ngồi bệt và khom lưng, hai đầu gối co đụng cằm, gọn lỏn trong lòng Phong. Khoang ghe quá chật cho mười người ngồi lèn nhau, phía ngoài còn tấn mấy buồng chuối mùi nhựa nồng chát. Bên trái tôi, cha mẹ Phong dúi sát nhau. Một bé trai độ bốn, năm tuổi, bị uống thuốc ngủ, nằm im lìm trong lòng cha nó. Bà vợ ngồi kế bên, chân trái đạp chân tôi nhưng hình như bà không biết và tôi cũng không thể dời chân đi nơi khác. Đành chịu. Người con gái ngồi kế có lẽ là em gái bà, mặc bà ba đen như gái quê, mặt từa tựa nét.

Khí trời đêm hơi lạnh nhưng bên trong khoang, nóng hầm hơi người. Hình như cái nóng hậm hực ấy tăng gấp bội vì trộn lẫn với nỗi căng thẳng bập bùng ngập ngụa không gian. Tôi lén nhìn đồng hồ giấu trong ngực áo. Khoảng 2g15 sáng. Tôi thì thầm nơi tai Phong "Hơn hai giờ sáng rồi anh." Phong gật nhẹ đầu. Người đàn ông chèo lái ngồi im như pho tượng. Đôi khi ánh mắt của hắn lấp lánh nhẹ dưới ánh trăng khi chớp. Cái mũi dài mang nét khoằm khiến mặt hắn lộ đầy vẻ gian ác nhưng nụ cười nở rộng với hàm răng thưa làm giảm bớt ấn tượng xấu nơi người đối diện. Hắn mặc áo bà ba đen, tay áo xắn quá cùi chỏ.

Người đàn ông đưa hai người đàn bà lội bộ băng qua hàng cây thấp trở lại. Hơi thở của hắn nóng hôi hổi phà ngay mặt tôi khi thò đầu vào khoang kêu người đàn ông ẵm đứa con ngủ mê mệt. Người chồng bò ra đằng lái, vác đứa bé trên vai như vác bị gạo mò mẫm bước lên bờ. Vấp phải vật gì trên bờ đất, ông chúi nhủi suýt té, tay cố giữ thằng bé, người lảo đảo bước quàng xiên lòm khòm rồi mới đứng thẳng lên được.
Tên đàn ông dẫn đường mặc áo sơ mi màu nâu đen, quần tây nhàu nát ống nhỏ túm hơi ngắn trên mắt cá, có chỗ sờn, đôi dép mỏng. Hắn ta tương đối trông được hơn người ngồi lái. Với nước da tái, môi thâm vì thuốc lá nhưng lại vẽ nên một nụ cười thật đẹp với lúm đồng tiền bên trái, kẽ răng đóng nhựa thuốc. Đôi mắt mí to với hàng mi rậm, duy có ánh mắt của hắn là không thẳng thắn, còn ngoài ra hắn dễ dàng lấy cảm tình của người xa lạ với giọng nói trầm và chậm.

Tôi và Phong chưa bao giờ gặp hai người đàn ông này. Chuyến đi này chúng tôi qua trung gian bởi người bạn thân giới thiệu. Người bạn đó đã đến Mã Lai an toàn, chính vì vậy mà tôi và Phong mới tin tưởng nơi người trung gian này. Hơn nữa, chuyến đi có cả gia đình người thân gì đó của người trung gian cùng đi, như vậy thì không có gì để chúng tôi lo ngại. Thường là chắc ăn, người trung gian mới dẫn gia đình đi sau khi đã mối lái nhiều lần có vàng có tiền làm của hoặc manh mối bắt đầu bị lộ. Ba mẹ Phong và tôi phải xuống Cần Thơ, giả đi thăm bà con. Tôi mặc hai bộ đồ trên người, giấu theo ít vàng và nữ trang. Phong mặc quần áo nhăn nhíu không ủi. Mẹ Phong thì mặc bà ba quần thâm. Ba Phong thì vận đồ rách, vá chùm vá đụp mấy chỗ, chân mang dép rách quai cột nối bằng cọng kẽm. Tất nhiên là không dễ gì qua mắt người miệt quê đó nhưng hình như họ cảm thông (hay tội nghiệp) trước sự trá hình không mấy chỉnh nên tôi thường bắt gặp ánh mắt ái ngại nhìn mà không dám hỏi vài lần suốt đường đi.

Đến nơi, cả bốn được dẫn đến một căn nhà nằm dựa mé sông chờ đến tối mới xuống ghe nhỏ theo sông ra cửa biển nơi có ghe lớn đợi sẵn. Trong nhà có độ hơn mười người khác đợi sẵn khi chúng tôi đến rồi chia nhóm theo ghe. Tôi dặn Phong tìm cách đi chung với người trung gian, bảo đảm hơn. Phong gật nhưng gia đình người đó cả thảy là tám, thêm hai người thì vừa đủ cho một chuyến. Nhưng tôi lẫn Phong đều không muốn đi tẻ riêng thành ra đành phải chờ chuyến chót, mười người, hơn mười giờ tối.

Thoạt đầu, ngồi chen chúc trong khoang, tôi muốn ngộp thở với hơi người và mùi bùn non lẫn mùi nước đọng hôi hám nơi đáy ghe. Hai người chèo bắt chúng tôi khom lưng gần như nằm mọp xuống, tấn bên ngoài dằn bên trên, mấy buồng chuối xanh ngắt sau khi đậy bao bố tời dơ bẩn lên đầu mọi người. Đường đi may mắn yên tĩnh không có chuyện gì xảy ra tuy rất chậm và kéo dài như không bao giờ đến nơi.
Người đàn ông dẫn đường trở lại, kêu bà vợ và cô em gái của bà cùng đi. Tôi chợt ngửi phải mùi nồng tanh tưởi nơi áo hắn khi hắn nghiêng người khều vai bà vợ. Bỗng dưng tôi nghe lợm giọng không hiểu tại sao. Cái mùi thật lạ lùng. Bóng tối trong khoang không cho phép tôi nhìn rõ mặt hắn. Mùi tanh đến lạ. Hơi thở của hắn cũng nặng nề hơn. Tôi thì thào với Phong sau khi hắn đã đi.
"Anh có nghe mùi gì không?"
"Không. Mùi gì?"
"Có mùi tanh tanh kỳ lắm... "
Phong bâng quơ qua chuyện.

Mùi bùn đó mà."
Cũng khá lâu người đàn ông dẫn đường mới trở lại. Có thể hắn đi không lâu lắm nhưng khi chờ đợi thì năm ba phút dễ biến thành năm ba giờ. Chỉ còn bốn người trong khoang. Hai tên đàn ông bàn tính nho nhỏ trên bờ. Tôi bỗng nghe gai ốc nổi đầy người. Tôi nắm chặt tay Phong. Mồ hôi tươm ướt lưng. Người đàn ông đẹp trai kêu chúng tôi ra khỏi khoang. Hắn nói, giọng khoan thai.
"Bây giờ tui dẫn ông bà đi, hai người một. Để khỏi mất thì giờ, hai người đi với anh Ban, hai người đi với tui. Tụi tui đi hai đường nhưng đường nào cũng dẫn tới chỗ ghe lớn. Đi đông nhiều tiếng động dễ bị lộ. "

Rồi không đợi phản ứng của người nào hết, hắn hất hàm người mũi khoằm tên Ban, đẩy cha mẹ Phong về phía đó. Quay nhìn hai đứa tôi, hắn cười, hàm răng lởn nhởn dưới ánh trăng, bóng đen lúm đồng tiền nổi rõ trên má, rồi hắn quay lui bắt đầu đi về phía rừng cây thấp. Phong nắm tay tôi đi theo hắn. Rừng cây tối mờ dù là rừng thưa, bóng lá đen ngòm trên đường lồi lõm. Tôi vấp té loạng choạng nhiều lần, đi chậm hẳn lại.

Chợt một nhánh cây đập vào mặt đau điếng, tôi khựng lại, giằng tay khỏi tay Phong rồi đỡ nhánh cây cúi người lom khom. Bỗng dưng, tôi nghe thấy... không chắc mình nghe đúng, nhưng tứ chi chai cứng. Thứ âm thanh nhọn như tiếng mèo gào giữa khuya. Tim tôi đập nhịp cuồng. Tôi quờ quạng tìm tay Phong. Chàng đứng sát tôi, chợt tôi cảm thấy cả người mệt mỏi và thỏng dài. Người đàn ông dẫn đường quay nhìn hai đứa tôi. Bóng tối mờ nhưng tôi vẫn thấy được ánh mắt kỳ lạ của hắn. Bỗng nhiên nỗi sợ hãi ùa tới tràn ngập người tôi với sự im lặng kỳ lạ của người dẫn đường không thúc hối khi thấy chúng tôi khựng lại. Hắn không hề kêu chúng tôi nhanh bước. Thời gian đứng khựng và cả ba đứng im như chờ đợi phản ứng của nhau. Chợt Phong kéo ngược tay tôi chạy trở lại hướng vừa rời đi lúc nãy. Tôi chạy cuống cuồng theo tay kéo mù loà. Rừng cây như mê hồn trận, chúng tôi chạy bất kể mọi thứ.

Rồi cả hai cũng trở lại được bờ sông nơi ghe cặp bến. Người đàn ông tên Ban đang cúi khom lục lọi chi nơi bóng đen nằm im bên chân hắn. Tôi đứng sựng kêu không ra tiếng. Miệng lưỡi dính thành một khối nghèn nghẹn. Bóng đen dưới chân hắn là mẹ Phong, nửa trên loã thể, tư thế co quắp, mặt úp xuống bùn. Ban hình như cũng không ngờ sự có mặt của tôi và Phong. Hắn đờ người, tay còn cầm sợi dây chuyền vàng lòng thòng. Trong khoảnh khắc chúng tôi nhìn hắn, nhìn cái búa bửa củi vất bên chân. Tôi không thấy máu vì bóng đêm làm nhoè bẩn mọi thứ. Nỗi sợ hãi dâng lấp trí óc. Ý nghĩ lướt thật nhanh trong đầu. Tôi đã hiểu tại sao chúng muốn dẫn từng hai người một. Tôi sực nhớ đến người dẫn đường. Đầu óc hoảng sợ nhưng vẫn còn sáng suốt để nghe rõ tiếng chân chạy đuổi và tiếng la của hắn đâu đó "Ê Ban, coi chừng tụi nó chạy. Ban&#33; Ban&#33; Tụi nó chạy rồi&#33;" Phong vụt chạy về chỗ neo ghe. Tôi chạy theo tay níu của Phong đến sát mé nước, chân vấp vật gì. Tôi ré lên như đạp phải giòi. Nhìn xuống, ba Phong nằm nửa người vùi dưới nước. Phong khựng lại vì tiếng la của tôi rồi đẩy tôi ra sông. Tôi sặc sục, nước mới ngang ngực. Phong hét vào tai tôi.
"Lội mau lên, lội ra giữa sông."

Tôi bơi hối hả, tay chân nặng chình chịch vì hai bộ đồ ướt nước. Tôi quay cuồng tứ phía, không rõ mình bơi về hướng nào mới đúng. Tiếng người la hét sau lưng nghe chói tai đến độ hãi hùng. Một tràng đạn bắn vãi quanh tôi và Phong. Chàng đè đầu tôi ngụp xuống nước. Không mấy lâu, tôi ngộp thở hất tay Phong trồi lên hớp không khí. Súng nổ liên hồi như sát mang tai. Tôi luýnh quýnh đập tay chân loạn xạ, chưa đầy mấy phút đã mệt lả. Tôi càng ráng trồi lên chừng nào thì lại càng chìm xuống nhanh chừng nấy. Tôi lặn hụp lên xuống như người sắp chết đuối. Có lẽ nhờ vậy mà tôi tránh được đạn bắn xối xả chung quanh. Phong khi lặn kéo tôi hụp xuống, khi nổi đẩy tôi trùi tới. Tôi bơi tới tấp với cảm tưởng mình nổi ì một chỗ. Đầu óc tôi rối loạn nhưng hình như vẫn tỉnh táo, rất tỉnh táo để thấy ánh trăng mờ trên cao, cây cối đứng im nơi bờ, bóng nước lấp lánh quanh mình, hơi thở hào hễn, cơn mệt muốn đứt hơi và mấy bóng đen trên bờ với loạt đạn dữ dội. Tôi bơi như máy, hơi thở dần ngắn với nước tuôn vào mũi mồm sặc sục. Biết mình không đủ sức, tôi thả ngửa để Phong vịn vai đẩy đi. Hình như chúng tôi đã ra được giữa sông. Tôi nhìn vào bờ, chỉ thấy dạng cái ghe, hai bóng đen tàn ác nhoè lẫn trong bóng đêm nhưng ánh lửa nháng với tiếng nổ vẫn hiện hữu. Tôi đạp chân phụ sức với Phong, mắt nhìn thẳng lên lòng đêm có trăng sao đầy đủ. Trời đất có đó nhưng hình như bịt tai im lặng trước hành động dã man. Tôi nhẩm cầu những đấng tối cao mà tôi có thể nghĩ đến trong nhịp tim hỗn loạn.
Tiếng súng bỗng im. Sự im lặng hãi hùng đè chụp lấy tôi. Tiếng đập nước vùng vẫy của chúng tôi bỗng trở thành tiếng động duy nhất rõ mồn một trong đêm. Tôi lật sấp người lại tiếp tục bơi, bờ bên kia vẫn còn xa thăm thẳm. Có bơi mới thấy con sông không nhỏ như tôi tưởng khi còn ngồi trên ghe. Phong nhìn lại rồi nói qua hơi thở đứt quãng.


"Tụi nó chèo theo... bơi lẹ... lên em... May ra mình... thoát."
Câu nói của Phong lại được đệm bằng tiếng súng nhưng rời rạc hơn lúc nãy. Tôi muốn bịt tai để đừng nghe thứ âm thanh dữ dằn chở đầy gai nhọn đâm thẳng tim óc. Tôi nhìn lui, không hiểu sao trong lúc bấn loạn, trí óc vẫn tiếp tục có lúc minh mẫn để thấu suốt những thứ không dính dáng gì hết, quanh mình. Chiếc ghe trôi lừ lừ ra giữa sông thật nhanh. Lửa đỏ loé quanh. Tôi nghe được tiếng giầm quậy nước lẫn với tiếng súng mỗi lúc thưa hơn. Tiếng lủm chủm của đạn rơi không còn nghe gần đâu đây nữa mà vạt xa xa về phía bờ bên phải. Phong kề tai thì thào.
"Tụi nó không thấy mình. Em bơi nhẹ dưới nước trôi lần vào bờ, đừng gây tiếng động mạnh. Khi tụi nó bắn thì mình bơi nhanh hơn một chút."
Đám lục bình nhẩn nha trôi đâu đó làm hai tên đàn ông lầm lẫn. Chúng la hét lẫn nhau.
"Mày bắn lục bình không hà, Ban&#33; Ê. Đ.m. tụi nó trôi hướng này sao mày cứ bắn hướng đó hoài vậy? Đ.m. giết có hai đứa mà cũng không xong, biết làm gì ăn đây mậy?"
"Câm cái miệng của mày lại. Đứa nào để xẩy? Hả? Mẹ cha nó, tao bắn đúng chỗ, chắc tụi nó chìm rồi. Không tin thì thôi. Đ.m, bỏ cho rồi. Sống chết kệ mẹ tụi nó. Về cho xong, trời gần sáng rồi, làm cả đêm, mệt chết mẹ&#33;"

Mọi thứ vụt im. Không có tiếng chèo lẫn tiếng chửi thề. Tay Phong nắm cứng vai tôi trong khoảnh khắc rồi buông. Tôi chúi đầu sát mặt nước, tay chân cố khuẫy thật nhẹ nhưng vẫn mang cảm tưởng nặng chịt lào xào khuyấy nước. Im lặng nặng như tấm màn sũng nước phủ đè lên tâm trí. Tim tôi đập rối rít, mạch máu nhảy theo nhịp tim hào hễn, tai tôi nghe được tiếng bình bịch của tim mình tưởng như ai cũng đều nghe ra. Chợt có người dúi chân tôi xuống. Tôi hơi giật mình khi chân đạp phải lớp sình mềm. Phong đứng, mặt ngửa chừa mũi thở, cả đầu dìm gần hết dưới nước. Tôi bắt chước Phong, đỡ mệt vì chân chạm đáy sông nhưng phải đổi chân chống vì lớp sình mềm khiến chân chuồi nghiêng không vững. Được một lát, tôi ngẩng nhìn vừa lúc bóng đen nơi ghe lên tiếng.

"Đằng kia kìa. Đó. Đ...đ... tụi nó vừa hụp xuống. Chỗ này nè. Mày bắn chỗ đó coi."
Phong nắm tay tôi kéo hụp xuống nước. Nghe được câu nói của người trên ghe nên tôi kịp chuẩn bị để hít một hơi không đến nỗi chịu ngộp lâu. Đạn bắn tung toé sát nơi tôi đứng. Phong dò dẫm bước đi dưới nước. Tôi bước theo mò mẫm, chân đạp sình loạng choạng nhằm nơi trũng sâu làm tôi hốt hoảng bíu chặt tay Phong. Miệng há ra bất ngờ khiến nước ùa vào mồm, tôi ngột ngạt trồi đầu lên thở. Trước mặt, đám lục bình kẹt nhánh cây chết dồn đống bên bờ. Tôi truồi sâu vào đám lá, chỗ nước cạn ngang bụng nên ngồi chồm hỗm dưới nước. Bóng ghe đi ngang thật rõ. Tiếng nói chuyện vang vang.
"Kệ mẹ tụi nó, về cho rồi. Mày cất đồ chưa?"
Giọng trầm khoan thai trả lời như không bị ảnh hưởng chi hết với hỗn loạn máu me vừa rồi.

Rồi, hỏi hoài&#33; Xét hết mấy cái thây rồi. Trừ khi nào họ nuốt vô bụng thì tao chịu chớ... Ờ, hay là mình quay lại mổ mấy cái thây đàn bà. Tụi nó có khi nuốt hột xoàn..."
Giọng kia bẳn gắt hơn. "Sao hồi nãy hổng nói? Mẹ nó. Xì. Đ.m, gì cũng mày. Đợi xong rồi mới nói. Xẩy hết hai đứa... Gần sáng rồi, mổ miết gì nữa. Đ. m.."
Tiếng nói nhỏ dần theo dạng ghe loãng dần trong đêm tối. Phong đứng dậy, lần mò trượt lên trượt xuống với lớp sình nơi bờ rồi mò lên bờ đất. Tôi đạp sình nhão nhoẹt len chảy qua mấy kẽ chân, theo Phong lên chỗ có đất cứng. Bờ đất đầy rễ chằng chịt của thân cây chết, không rõ cây gì. Tôi lại vấp chân đau điếng nhưng cơn đau không đủ nồng độ để tôi nhận biết lâu hơn. Ngồi bệt xuống, tôi lần mò ngực áo tìm đồng hồ. Ánh lân tinh mờ ảo. 4g20 sáng. Tôi nói với Phong, hơi khựng lại khi nhận ra mình lạc giọng.
"Gần bốn rưỡi rồi anh. Giờ tính sao đây?"

Phong cởi áo vắt nước không trả lời. Tôi cởi bớt một bộ đồ bên ngoài cố vắt cho ráo rồi phơi đại trên mấy nhánh cây gần đó. Hơi lạnh thấm qua lần áo ướt còn lại trên người khiến tôi nổi ốc. Cả người tôi run từng cơn theo phản xạ cơ thể. Tôi ngồi bó gối, hai tay ôm chân co ro. Phong choàng tay qua vai tôi cho ấm. Hai đứa chúi vào nhau. Trí óc tôi dần dần tỉnh và tôi cố tránh không nghĩ đến những gì vừa xảy ra.

Rừng cây thưa thớt không một bóng nhà hay bóng đèn. Sao thật sáng và thật nhiều. Tiếng ếch nhái ễnh ương đâu đó nổi lên thật bình yên như không có chuyện gì xảy ra. Nước mắt tôi rơi chầm chậm nhiểu trên tay mới hay. Cơn sợ hãi lắng xuống, giờ chỉ còn lạc lõng khốn cùng sau cơn bão tàn khốc. Tôi mang cảm tưởng vừa rỗng không vừa đầy ắp đến độ muốn nôn. Không biết tôi nên nói gì, làm gì. Sau con giông tàn bạo, sực thấy mình không là gì cả, tay chân dư thừa, đầu óc đầy rẫy những hình ảnh chết chóc và cảm tưởng mình rất mỏng manh dễ bị xúc phạm thì lấp đầy cả người.
Giọt nước mắt đầu rơi xuống, khơi dậy trùng dương trong tôi. Tôi khóc ngon lành như chưa bao giờ được khóc. Trí óc lần mò trở lại xác người vấp phải nơi mé nước, sợi dây chuyền vàng đong đưa nơi tay gã đàn ông cúi mình trên cái xác trần. Hoá ra, tim tôi hụt nhịp, những người chung ghe đã chết. Tôi nhớ đứa bé trai ngủ mê vì thuốc. Cô gái trẻ thì thầm với tôi "Bồ em ở Texas. Ảnh hứa sẽ đón khi em tới đảo. Mấy năm rồi em chỉ đợi có dịp này. Tưởng sẽ không bao giờ gặp rồi chứ. " Giọng cười khẽ vui sướng đầy hy vọng của cô. Giờ thì thật là không bao giờ gặp. Tôi gục đầu ủ rũ với nước mắt. Phong ngồi im lặng lẽ. Chúng tôi đã gặp phải lũ cướp cạn tàn ác. Lũ cướp cùng màu da cùng tiếng nói với mình. Tôi thường nghe nói đến hải tặc Thái lan nhưng chưa nghe nói đến lũ cướp cùng màu da tiếng nói với mình. Giờ thì tôi hiểu, nạn nhân chết cả, lấy ai kể lại câu chuyện thương tâm nơi bờ sông vắng. Biết bao bờ sông vắng đã chứng kiến những cảnh tượng tương tự? Tôi lau nước mắt trên tay áo còn ẩm ướt, nằm lăn ra đất. Phong nằm theo, gối đầu tôi lên tay chàng. Tôi sờ soạng mặt Phong trong đêm tối mờ, ngón tay tôi ướt khi lướt ngang mắt. Tôi vùi mình trong lòng Phong, cảm kích và đau đớn vô vàn.


o O o

khungbotumlumtele
10-09-2005, 03:37 PM
Bà ngoại Phong mất khoảng sau hai giờ sáng cùng ngày hôm ấy. Dì Sáu cho chúng tôi hay mấy ngày sau, khi hai đứa mò về đến nhà. Bà mất cùng ngày chúng tôi bị nạn. Lúc hai giờ, bà còn đòi dì Sáu rót cho tách trà. Sau đó, dì Sáu về giường của mình. Đến sáng thì bà đã chết cứng, hai chân thò ra ngoài như sửa soạn xuống giường, tay phải níu chặt thành giường, mắt mở hé.
Phong ngồi ôm đầu nghĩ ngợi. Chập sau Phong hỏi.
"Dì có chắc là sau hai giờ không?"
"Chắc. Dì cho ngoại uống nửa tách trà. Lúc để tách xuống bàn sực thấy đồng hồ gần hai giờ chớ dì có tính coi giờ đâu mà nhớ."
Dì Sáu là em út của mẹ Phong. Dì lớn tuổi nhưng không con. Chồng dì còn ở trại học tập nên dì không đi với chúng tôi, vả lại không ai trông nom bà ngoại, đã hơn bảy mươi lăm già yếu nhiều bệnh tật. Dì giống mẹ Phong nhiều nét nhưng khô khan cằn cỗi hơn. Mặt dì sưng húp vì khóc nhiều.

Lúc mở cửa thấy hai đứa tôi, dì oà khóc như trẻ nhỏ. Thấy trở về, hiểu ngay là không thoát, phần mới chôn mẹ một mình nên dì tủi thân. Đến khi biết cha mẹ Phong tử nạn, dì khóc thảm thiết hơn. Phong chỉ ngồi yên nhìn tôi và dì Sáu, mặt chàng chai cứng với giận dữ và oán hờn.
Tối hôm đó, Phong ngồi nơi giường ngoại, vụt nói một câu lạ.
"Mình thoát được là nhờ ngoại&#33;"
Tôi nhìn Phong không hiểu. Dì Sáu hỏi.
"Sao? Con nói sao?"
Phong chậm rãi kể, mắt nhìn mông lung.
"Lúc Ngà giật tay con đứng lại, tự nhiên con thấy bà ngoại. Thấy như thế nào thì con không biết, chỉ biết là thấy mà trong người không hề thắc mắc tại sao. Bà ngoại xua xua tay nói. Chạy đi con, lội qua bên kia sông. Lẹ lên. Chạy đi con&#33; Con nghe rõ ràng giọng thúc hối nóng lòng của Ngoại. Con đang hoang mang chưa biết làm gì thì lại nghe bà nói. Mẹ mày chết rồi. Chạy mau lên con ơi. Rồi như có gì ám, con lôi tay Ngà chạy về phía bờ sông theo lời Ngoại. "

Tôi nghe lạnh nơi sống lưng. Tôi đã không kéo tay Phong đứng lại vô cớ, rõ ràng có nhánh cây đập nơi mặt đau như trời giáng nên tôi đứng lại không suy nghĩ. Khi mặt trời lên, Phong nhìn và không thấy vết bầm hay trầy trụa nào trên mặt tôi cả. Điều này khiến tôi ngạc nhiên vì cái đau xé da thịt kia không thể nào không để lại dấu vết trên mặt. Còn tiếng gào, thứ tiếng đau đớn của một con thú bị nạn. Thứ âm thanh chỉ có thể tạo được bởi cơn đau tận cùng xương tuỷ. Phong đã không nghe tiếng gào nào hết khi giật tay tôi quay lui chạy ngược về hướng cũ. Không dám suy tưởng nhiều hơn, tôi chỉ giản dị cho rằng mẹ Phong đã tìm cách cứu chúng tôi bằng tiếng gào mà bà đã không kịp thoát thành tiếng. Tôi đã nghe được thứ âm thanh xé rách màn đêm chọc thẳng óc mình, đã ngửi được mùi máu trên áo kẻ giết người. Nếu không có nhánh cây quật mặt, tôi đã không dừng lại và đã tiếp tục ngoan ngoãn đi theo tên dẫn đường gian ác. Nếu không có tiếng gào, có lẽ tôi vẫn tiếp tục đi không chút ngờ vực. Tiếng gào và cái đau của nhánh cây quật mặt, cả hai đều thật, thật như nỗi hãi hùng của cuộc thảm sát ghê rợn nơi bờ sông vắng. Tôi đã cảm thấy được tất cả mọi thứ bằng mọi giác quan trên người. Có thể, nhánh cây làm tôi đau nhưng không để lại dấu vết, nhưng còn tiếng gào, tôi phải giải thích làm sao khi Phong không hề nghe có tiếng gào nào hết. Hai đứa tôi đã được báo động cùng một lúc bằng hai hình thức khác nhau. Và nhờ hành động vụt chạy bất thần khiến tên dẫn đường không kịp trở tay. Nếu không, nếu không... tôi vẫn thường tự hỏi, nếu không, nếu không, chuyện gì sẽ xảy ra và tôi sẽ làm gì nếu gã đàn ông không gờm tay với mình giả như tôi và Phong cùng rơi vào tình trạng sống chết dưới tay hắn? Đây là nỗi ám ảnh không biết đến khi nào tôi mới được quên dù đã yên ổn xứ người nhiều năm sau đó.


Hết

khungbotumlumtele
10-09-2005, 03:38 PM
Những biệt thự hoang ở Đà Lạt có ma?

--------------------------------------------------------------------------------

Nhiều người quả quyết nhìn thấy tận mắt bóng ma xuất hiện trong những ngôi biệt thự này. Có người phải dọn nhà đi nơi khác sống. Phần lớn các câu chuyện đều liên quan đến cái chết rùng rợn của những cô gái trẻ.

Căn biệt thự nằm trên đường Trần Hưng Đạo theo kiến trúc Pháp rất đẹp, nhưng đang xuống cấp trầm trọng, cửa nẻo tan hoang. Người ta đồn rằng, bước vào ngôi nhà ấy, tự nhiên người có cảm giác ớn lạnh chạy dọc xương sống. Mặc dù bỏ hoang không người ở, nhưng người đi đường thỉnh thoảng nghe thấy tiếng nói, cười. Tiếng khóc phát ra i ỉ, lúc dồn dập, lúc ngắt quãng. Căn nhà không hề có điện, thế mà ban đêm, đi ngang qua đây, lại có ánh sáng điện mờ mờ phát ra. Ở một căn khác liền kề, chỉ cách chừng hơn 10 m, có người kể thấy những dải lụa trắng thỉnh thoảng bay lất phất, nhưng khi đến gần thì không nhìn thấy nữa, nhưng nếu đứng từ xa trông vào thì rõ mồn một.

Một "căn nhà ma" khác nằm ngay trong lòng thành phố là biệt thự số 10 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, được xây dựng từ năm 1949, là dinh thự của tướng Bình Xuyên - Bảy Viễn, nay là trụ sở của Ủy ban MTTQ VN tỉnh Lâm Đồng. Theo bà Huệ, người từng sống ở đây và làm quản gia cho gia đình Bảy Viễn, thì ban ngày, biệt thự này yên bình, ấm cúng, không có gì, nhưng ban đêm thì dễ sợ lắm. Bà Huệ kể nhiều đêm bà nghe thấy tiếng gõ cửa rồi tiếng bước chân người đi lại, dù không hề có bóng người. Khi bà xuống lầu dưới ngủ thì trong phòng tắm ở lầu trên, mặc dù cửa khóa, chìa bà cầm trong tay nhưng vẫn nghe tiếng xối nước ào ào rõ ràng như có người đang tắm. Những âm thanh kỳ quái đó cứ diễn ra cả đêm khiến bà không tài nào chợp mắt. Bà Huệ kể đó là oan hồn của một cô gái. Cô bị giết chết khi đang tắm chờ chồng về.

Cũng theo lời đồn phía bên hông căn biệt thự có một cây thông rất to. Một đôi nam nữ trẻ bị điên thường “thay ca” nhau đến chơi với cây thông nói chuyện rì rầm với cái gốc cây không biết chán, rồi khóc, cười, nhảy nhót... Một hôm, người ta cưa cây thông đi; cậu con trai cứ ôm đầu kêu đau quằn quại và khi cây thông vừa bị cưa đứt thì cậu ta cũng tắt thở. Còn cô gái khi đến thấy cây thông bị cưa đổ, cô ta ngơ ngác cười thật to rồi bỏ đi luôn không quay lại nữa.

Ly kỳ hơn là chuyện hai căn biệt thự trên đèo Prenn. Nằm bên phía tay phải hướng từ TP HCM lên, ngày xưa là của một tên quan ba người Pháp. Hắn nổi tiếng là một kẻ ăn chơi trác táng. Hằng đêm, hắn kéo bạn bè, gái về uống rượu, nhậu nhẹt chơi bời thâu đêm, suốt sáng. Một cô gái rất đẹp làm nghề kỹ nữ được hắn vời đến. Hắn đối xử với cô rất thô bạo. Khi cô gái tìm cách chạy trốn, hắn rút súng chĩa về hướng cô, dọa bắn. Cô gái gieo mình xuống lầu tự tử.

Một cô gái khác mang thai tìm đến đây và gieo mình xuống cái giếng sâu trong khuôn viên biệt thự chết. Nghe kể, cô gái này rất thiêng, có một đoàn khách đi du lịch đã lập am thờ và cầu nguyện cho cô. Lại có chuyện, thỉnh thoảng vào ban đêm, hoặc khi trời tang tảng sáng, các tài xế chạy xe tải qua đây thường bắt gặp một cô gái bận bộ đồ trắng toát từ phía dưới giếng đi lên vẫy xe xin đi nhờ. Đã có tài xế tưởng người bằng xương bằng thịt, dừng lại đón. Họ thấy rõ ràng cô ấy đã bước lên xe và còn nói cười huyên thuyên, thế nhưng, vụt một cái, chỗ ghế nơi cô ngồi bỗng nhiên trống. Người tài xế nọ phải một phen hú vía.

Căn biệt thự đầu đèo cũng được đồn đại là có ma. Ban đêm, trong căn biệt thự này có tiếng súng nổ, bóng một cô gái mặc đồ trắng đi lại, trên tay bồng một đứa trẻ con và khóc.

Để tìm hiểu thực hư, một đám trẻ tò mò, bạo gan rủ nhau đi "săn ma". Suốt 3 đêm, dù đã cố tình quan sát, trở đi, trở lại những biệt thự có “ma” ấy, họ vẫn không thấy bóng dáng “cô gái mặc áo trắng toát” nào cả. Trong ngôi biệt thự hoang tàn bên đường Trần Hưng Đạo vào những đêm trăng, ánh sáng rọi xuống đúng là trông như một dải lụa trắng. Sương đêm Đà Lạt phủ một lớp mờ ảo ôm lấy căn biệt thự, cùng với ánh đèn đường hắt vào, khiến chúng trở nên bí ẩn trong tiếng côn trùng rả rích. Thỉnh thoảng tiếng gió rít ào ào từ ngàn thông vọng vào, nghe như có tiếng ai đó khóc.

Trong những căn biệt thự này, trên những bức tường có rất nhiều hình khắc, họa - hoa văn lạ mắt, thường ở nơi cửa hoặc trong phòng ngủ. Ở mỗi căn, hình thù những nét họa lại khác nhau, có hình chìm, hình nổi. Một số người cao tuổi cho biết người phương Tây, cụ thể là người Pháp, cũng mê tín lắm. Đó là những dấu yểm bùa. Các nhà kiến trúc thì bảo, văn hóa của họ thế, đó chỉ là một cách trang trí nhà cửa...

Ông Nguyễn Văn Mạnh (63 tuổi), hiện là người bảo vệ, trông coi căn biệt thự dưới đèo, khẳng định có nghe thấy những lời đồn đại về 3 cô gái bị chết trong biệt thự này, nhưng “dị bản” khác. Thực hư thế nào ông không biết, nhưng vì biệt thự để lâu, ít người ở lại thêm khí hậu và cảnh quan ở đây nên hoang vắng, lạnh lẽo là phải.

Một cán bộ Công ty Kinh doanh Phát triển nhà Lâm Đồng khẳng định: “Chuyện ma trong những ngôi nhà ấy là do người ta thêu dệt, truyền nhau, chứ sự thực thì làm gì có. Chính tôi cũng từng ở đó nhưng chưa nhìn thấy ma bao giờ... Hiện, các căn biệt thự kể trên đang được tính toán đưa vào khai thác du lịch hoặc sử dụng làm công sở. Căn biệt thự số 10 Nam Kỳ Khởi Nghĩa thì được giao làm trụ sở ủy ban phường 1, TP Đà Lạt. Hai căn dưới đèo Prenn hiện Công ty Phát triển Đô thị Bà Rịa - Vũng Tàu trúng thầu và đang quản lý sử dụng...”.

Những căn biệt thự này có giá trị lớn về nghệ thuật kiến trúc, lịch sử và là phần quan trọng làm nên vẻ đẹp và tính văn hóa của TP Đà Lạt. Nhưng hiện nay, chúng đang bị bỏ hoang và là đề tài cho những tin đồn thất thiệt.

(Trích từ Báo VietNam)

khungbotumlumtele
10-09-2005, 03:38 PM
Edogawarampo

Chiếc ghế đa tình





Sau khi chồng bà đi làm, bà Yoshiko được hoàn toàn tự do. Bà vào thư phòng mà hai vợ chồng bà cùng chia nhau sử dụng, tiếp tục viết một truyện dài cho số đặc biệt mùa hè của tạp chí K.

Bà Yoshiko là một nữ sỹ nổi danh về bút pháp lả lướt. Chồng bà là một nhân viên cao cấp ở Bộ Ngoại giao, nhưng ông có vẻ lu mờ trước tên tuổi đang lên của bà vợ. Hàng ngày, bà nhận được cả chồng thư từ của độc giả bốn phương gửi tới.

Sáng hôm ấy, khi ngồi lại bàn giấy, công việc đầu tiên của bà là đọc mấy xấp thư mới gửi đến. Bà đọc hết tất cả các thư đó.

Bà đọc các thư ngắn trước và ghi chú nội dung. Sau cùng bà đọc các bức thư dài. Một đôi khi bà nhận được cả truyện ngắn mà người viết chịu khó gửi đến để nhờ bà đọc và phê bình. Những truyện ngắn đó thường viết dài dòng, luộm thuộm và gây buồn ngủ.

Hôm ấy, bà Yoshiko cũng nhận được một bản thảo. Nhưng đây là một bản thảo hết sức đặc biệt, không có nhan đề trên đầu.

Có lẽ là một bức thư thì đúng hơn.

"Thưa bà..."

Bà Yoshiko ngừng lại, ngẫm nghĩ. Có thể đây chỉ là một bức thư. Bà liếc nhanh mấy hàng phía dưới, nhưng càng đọc bà càng chăm chú thêm.

Tính hấp dẫn của bức thư khiến bà đọc một mạch.

"Thưa bà,

Tôi mong rằng bà sẽ bỏ qua cho sự đường đột của kẻ không quen biết như tôi mà lại gửi một bức thư quá dài cho bà. Nội dung bức thư của tôi sẽ làm bà xúc động mạnh và xúc động triền miên.

Trong thư, tôi thú nhận tất cả cảm nghĩ sâu kín của tôi và những việc tôi đã làm.

Trong mấy tháng qua, tôi đã trốn xa ánh sáng văn minh, sống lén lút như một con yêu tinh. Cả thế giới không một ai biết được các hành động của tôi. Nhưng gần đây có một sự thay đổi lớn lao xảy ra trong tâm hồn, tôi không thể giữ bí mật được. Tôi cần phải thú nhận.

Đọc đến đây, có lẽ bà phân vân không rõ tôi dẫn bà tới đâu. Tuy nhiên, tôi xin bà nên kiên nhẫn nghe lời thú tội của tôi.

Tôi bối rối không biết phải bắt đầu như thế nào. Vì việc tôi làm rất lạ lùng. Tôi thiếu lời lẽ để ghi lại. Theo tôi nghĩ không có lời lẽ nào của con người có thể diễn tả đúng mức các chi tiết những việc tôi đã làm. Dù vậy, tôi xin cố gắng kể lại theo thứ tự thời gian.

Trước hết, tôi xin nói rõ tôi là một người xấu xí không thể tưởng tượng được. Điều đó là một sự kiện quan trọng. Vì nếu bà thấy mặt tôi, bà sẽ ngất xỉu.

Nhưng bên trong cái mặt xấu xa ghê tởm đó, ác thay, tôi lại có một quả tim biết rung động tha thiết trước vẻ đẹp, một quả tim nóng bỏng đam mê.

Điểm thứ hai tôi là một người thợ tầm thường. Giá như sinh nhằm gia đình quý tộc, tôi có thể dựa vào thế lực, tiền tài để tìm sự an ủi cho cái mặt xấu xí của tôi. Và nếu như tôi là một nghệ sỹ có biệt tài thì tôi cũng có thể quên được nỗi xót xa mà hình hài khác thường đã đem lại cho tôi với vần thơ, điệu nhạn, tôi sẽ tìm được sự lãng quên... nhưng, tôi chỉ là một người thợ đóng bàn ghế, sở trường của tôi là đóng đủ loại ghế.

Nhờ đi sâu vào ngành này nên tôi cũng tạo được một cái tên trong làng. Những khách hàng thích loại ghế cầu kỳ đều đặt hàng ở hiệu tôi.

Từ một anh thợ mộc tầm thường, tôi trở thành một nhà vẽ kiểu và thực hiện đủ loại ghế. Tôi say mê trong công việc sáng tạo, hết kiểu này, tôi vẽ sang kiểu khác.

Và điều thích thú nhất của tôi là ngồi lên trên chiếc ghế vừa hoàn thành. Đó là một sự thoả mãn về nghề nghiệp. Với tư cách là kẻ sáng tạo, tôi có quyền ngồi trước trên các ghế của thân chủ, dù cho họ là bộ trưởng hay tổng thống.

Khi ngồi lên những chiếc ghế đặc biệt đó, tôi thường nghĩ ngợi, trí tưởng tượng của tôi được tự do phát triển... Tôi hình dung các nhân vật sẽ ngồi một cách thoải mái trên chiếc ghế của tôi. Họ là những kẻ quý phái, sống trong những lâu đài nguy nga lộng lẫy.

Tôi cũng hình dung chiếc ghế do tôi sáng tạo được đặt trong một phòng sang trọng, phía sau một bàn giấy to tướng bằng gỗ. Trên bàn có một lọ hoa, hương thơm bay thoang thoảng trong không khí.

Và nghĩ ngợi như vậy, tôi thấy như là chính tôi cũng lạc vào thế giới sang trọng đó, như chiếc ghế mà tôi chế ra. Tôi muốn sống trong không khí thượng lưu quyền quý đó.

Và một hôm, tôi được đặt đóng một chiếc ghế bành vĩ đại, loại đặc biệt cho một khách sạn ngoại quốc ở Yokohama.

Loại này chưa hề có ở Nhật. Lẽ ra thì phải đặt ở ngoại quốc. Nhưng khi nghe tên tuổi của tôi, chủ khách sạn đặt tôi đóng chiếc ghế đó.

Để lấy tiếng với khách hàng ngoại quốc, tôi đem hết tâm hồn một nghệ sỹ đặt vào việc thực hiện chiếc ghế vĩ đại đó. Tôi say mê làm việc, quên cả ăn, ngủ. Khi chiếc ghế hoàn thành tôi vui mừng hơn lúc nào hết. Vì đây có thể nói là một thành công lớn lao nhất của tôi.

Như thường lệ, tôi ngồi lên chiếc ghế trước nhất. Thật là đầy đủ tiện nghi&#33; Thật là sang trọng&#33; Thật là thoải mái&#33;

Lò xo thật vừa vặn, không cứng cũng không mềm. Nệm bọc da êm dịu làm sao.

Tôi cảm tưởng chiếc ghế không những hứng lấy người ngồi mà nó còn mở rộng vòng tay đón nhận và ôm lấy người ngồi.

Tôi gnả người trên chiếc ghế để toàn thân lún sâu vào nệm, vuốt ve hai cánh tay của chiếc ghế, lòng lâng lâng thích thú.

Lúc bấy giờ tôi có một ý nghĩ hết sức kỳ quái. Tôi không muốn tách rời chiếc ghế vừa hoàn thành. Như một người mẹ mang nặng đẻ đau không đủ can đảm để cho người ta cướp đi hòn máu của mình, tôi cũng không chịu được cảnh chia cách giữa tôi và chiếc ghế.

Nhưng không thể không giao hàng cho thân chủ, tôi nảy ra một ý nghĩ kỳ quái là chính tôi phải đi theo chiếc ghế. Có lẽ, bà cho tôi là điên, mà tôi điên thật.

Tôi tháo chiếc ghế ra, xếp đặt bên trong để hai chân có chỗ để phía trước, hai tay có chỗ gác lên hai cánh tay của chiếc ghế. Lưng và đầu có thể tựa vào lưng ghế. Tôi cũng cẩn thận cho lỗ thông hơi để người ngồi bên trong không ngộp và nghe được tiếng động bên ngoài. Tôi còn cẩn thận xếp đặt vài chỗ trống nhỏ để trữ thức ăn và chai nước. Với lương thực tích trữ đó, kẻ nằm trong ghế có thể ở luôn trong đó hai ba ngày.


Sau khi hoàn thành kế hoạch, tôi chui vào trong chiếc ghế và có cảm tưởng là chính tôi đã chôn sống tôi trong nấm mồ đặc biệt này. Bên trong tối đen như một nấm mồ, và đối với những kẻ bên ngoài, tôi là một người đã biến vào cõi hư vô.

Không bao lâu, khách hàng đã đến lãnh chiếc. Anh thợ phụ của tôi không hề hay biết gì về ý định kỳ quái của tôi. Hắn thay mặt tôi giao hàng cho thân chủ.

Khi khiêng chiếc ghế lên xe, bốn người phu đã kêu lên:

- Trời đất quỷ thần ơi&#33; Chiếc ghế nặng cỡ một tấn.

Khi nghe họ la như vậy, tôi tái người, sợ người ta biết là có người trốn trong ghế. Nhưng chiếc ghế tự nó rất nặng. Cho nên không ai thắc mắc.

Chiếc ghế đã được đưa tới khách sạn. Người ta để nó ở một phòng khách, ngay tầng dưới.

Như bà có thể đoán, tôi chờ đêm đến, khi tứ bề im vắng, tôi lẻn ra khỏi nấm mộ.

Có ai nghĩ có người xuất hiện trong một chiếc ghế&#33; Cho nên tôi tha hồ đi lại, lục soát tất cả các phòng trong khách sạn. Hễ bị động, tôi chạy nhanh về nấm mồ của tôi. Vậy là an toàn.

Có lẽ bà đã nghe nói nhiều về loại ốc mượn hồn ở trên bãi bồi. Loại ốc này thích bò đi kiếm ăn mà mỗi khi nghe có tiếng chân người là chạy nhanh vào chiếc vỏ ốc. Tôi cũng là thứ ốc mượn hồn. Thay vì vỏ ốc, tôi có chiếc ghế. ý nghĩ tôi rất độc đáo nên không ai ngờ những hành động kỳ quái của tôi.

Nhờ vậy mà cuộc phiêu lưu của tôi hoàn toàn thành công. Đến ngày thứ ba, tôi gây xáo trộn trong khách sạn. Nhưng tình trạng đó tạo cho tôi nhiều thích thú. Không gì vui sướng bằng khi chui vào căn cứ an toàn vừa đúng lúc để nghe thiên hạ đuổi bắt xôn xao chung quanh. Tôi nghe người ta la trước mũi tôi "Nó chạy hướng này" và kẻ khác lại "Không, nó chạy hướng kia".

Nhưng ngoài cái thú cút bắt đó tôi phải chịu một vài cực hình trong cái trò chơi ly kỳ và nguy hiểm này. Cực hình lớn nhất là lúc những người Âu Châu to lớn, nặng nề ngồi lên chiếc ghế, sức nặng của các ông này ép sát cái lò xo và trong trường hợp đó, họ ngồi trên mình tôi, chỉ cách có một lớp da.

Lưng ông ta nằm tròn trên ngực tôi và hai cánh tay ông ta đã đặt lên hai cánh tay tôi, khói thuốc xì gà của ông ta bay lọt vào căn cứ an toàn và xông vào lỗ mũi tôi. Tôi muốn hắt hơi nhưng ráng nhịn. Tôi sợ đến toát mồ hôi lạnh. Nếu không nhịn được tôi sẽ hắt xì lên, kể như cơ mưu bại lộ. Nhưng may làm sao, tôi vượt qua được cơn khó chịu.

Kể từ ngày đó, số người chiếu cố đến chiếc ghế vĩ đại đặt giữa phòng có hơi nhiều. Họ thay phiên nhau đến ngồi lên đùi tôi.

Dù vậy, không ai biết họ đã ngồi lên một người đang sống như họ.

Nhưng bà sẽ ngạc nhiên mà hỏi tại sao tôi chịu khó chui rúc trong cái "huyệt mả" tối tăm, nghẹt thở như thế. Có gì thích thú đâu&#33;

Thật ra thì thích thú lắm, thưa bà. Tôi có cảm tưởng như một con vật sống trong một thế giới mới lạ, một thế giới mà dần dần tôi trở nên quen thuộc.

Tôi có thể đoán được những người ngồi trên mình tôi bằng cảm giác mà không cần trông thấy.

Những kẻ mập nằm sát vào người tôi. Còn những kẻ ốm thì nằm hêu hêu ở trên. Tôi có ý nghĩ là tôi đang ôm một bộ xương khô.

Tôi có thể phân biệt được người này với người khác một cách tài tình. Những đường nét trong họ khác xa nhau, cũng như chỉ tay hay gương mặt.

Thường đàn bà chia làm hai loại: Loại xoàng và loại đẹp.

Trong thế giới tối đen của tôi, vấn đề đẹp về gương mặt là vấn đề thứ yếu. Đối với một kẻ ở trong trường hợp đặc biệt như tôi, cái đẹp nằm trong...vóc dáng, tiếng nói và mùi thơm.

Cô gái đầu tiên ngồi lên mình tôi là một thiếu nữ Âu. Tôi nhận ra điều này nhờ nghe tiếng nói của nàng.

Lúc đó, thiếu nữ đang có điều vui trong lòng nên nàng ca hát. Giọng thánh thót của cô lan toả khắp gian phòng. Rồi tôi nghe nàng cười vang lên, tiếng cười thật là trong, đáng yêu làm sao. Tôi nghe nàng vỗ tay một cái thích thú rồi ngồi lên mình tôi.

Trong vòng ba mươi phút, nàng tiếp tục ca hát, cả người lẫn chân đều nhún nhảy theo nhịp hát.

Đây là một sự kiện mới đối với tôi vì từ trước đến giờ tôi luôn luôn xa lánh phái đẹp, lý do rất đơn giản là tôi rất xấu.

ấy thế mà bây giờ đây, một cô gái đẹp ngồi trọn vẹn lên mình tôi. Giữa tôi và nàng chỉ cách một làn da mỏng. Không hề hay biết có kẻ đang nghĩ ngợi về mình, thiếu nữa ca hát một cách vô tư.

Trước diễn biến mới đầy mê ly hấp dẫn đó, tôi quên mất ý nghĩ đầu tiên của tôi là lẻn vào khách sạn để ăn trộm.

Từ một kẻ cắp, tôi biến thành một kẻ si tình. Tôi hy vọng cuộc phiêu lưu của tôi sẽ kéo dài trong sự mê ly hấp dẫn như thế mãi mãi.

Và từ đó, chiếc ghế mà tôi ví là một nấm mồ trở thành một tổ ấm. Tôi đã tìm được tình yêu. Tuy là tình yêu đơn phương nhưng dù sao tôi cũng thấy đời tươi vui hơn trước.

Thoạt tiên tôi dự định lẻn vào phòng vơ vét những vật quý giá rồi trốn đi. Nhưng bây giờ thì tôi lại muốn ở lì lại đây.

Trong những chuyến dạ hành, tôi luôn luôn thận trọng bước thật nhẹ cố không gây ra tiếng động cỏn con nào. Nhờ sự thận trọng đó, tôi ở yên trong chiếc ghế cả mấy tháng mà không hề bị động ổ.

Những người ở khách sạn đa số là du khách. Họ đến ở một thời gian rồi đi. Chỉ có một số ít là ở dài hạn, lấy khách sạn làm nhà. Cho nên tôi không bao giờ có thể si mê một giai nhân một cách lâu dài. Cô gái đẹp người Âu mà tôi đã "chấm" cũng đã đi từ lâu.

Có khá nhiều giai nhân đến với tôi, và tôi được biết thêm chút ít về phái đẹp.

Dạo nọ có một vũ nữ đến Nhật, ngụ tại khách sạn của tôi. Mặc dù chỉ ngồi lên ghế tôi một lần nhưng nàng đã để lại cho tôi một cảm giác êm đềm mà từ trước đến nay tôi chưa từng biết. Khi nàng ngồi lên người tôi, tôi thấy ngây ngất lạ lùng. Dường như vũ nữ này có một ma lực đặc biệt đối với nam giới.

Nhưng cuộc phiêu lưu của tôi bước qua một giai đoạn mới một cách bất ngờ. Vì một lý do nào đó, ông chủ bắt buộc phải về xứ, bán cơ sở lại cho người Nhật.

Chủ mới có chính sách mới, đó là tăng thu giảm chi. Những trang trí mà ông cho là xa xỉ phẩm đều bị loại, cố nhiên cái ghế của tôi cũng liệt vào danh sách những món đem ra bán đấu giá. Khi nghe được tin này tôi hết sức thất vọng. Phản ứng đầu tiên của tôi là muốn trở về nếp sống bình thường như mọi người. Tôi đã đánh cắp được một số tiền khá lớn, và nếu sống như người thường, tôi có thể thong dong nhàn hạ.

Tuy nhiên khi nhớ đến những cái thú kỳ lạ trong thời gian tự chôn sống trong chiếc ghế, tôi thấy không đủ can đảm từ bỏ cuộc phiêu lưu.

Một ý nghĩ mới khiến tôi tiếp tục nếp sống kỳ quái. Trong thời gian ở khách sạn, tôi chỉ được gần gũi với những người đàn bà ngoại quốc. Tôi muốn có cơ hội được so sánh đàn bà Nhật với họ. Thấm thoát đã đến ngày đấu giá. Người mua chiếc ghế là một công chức cao cấp ở Đông Kinh. Nhà ông ta là cả một biệt thự nguy nga.

Cuộc di chuyển dằn vặt tôi ghê gớm. Cơ thể tôi có nhiều dấu bầm nhưng tôi cắn răng chịu đựng. Tôi chịu đau với hy vọng sẽ được sống trong gia đình sang trọng của người Nhật.

Khi đã về biệt thự, người ta đặt tôi trong thư phòng có lối kiến trúc tây phương. Điều khiến tôi sung sướng nhất là chủ nhân chiếc ghế là một thiếu phụ trẻ đẹp.


Nàng rất thích ngồi trên mình tôi. Có thể nói là nàng ngồi cả ngày, trừ những lúc ăn và ngủ. Cho nên cả ngày tôi được ôm ấp tấm thân kiều diễm của nàng. Về sau tôi mới hiểu tại sao nàng chịu khó ngồi trên mình tôi. Thực ra thiếu phụ trẻ đẹp đó là một nữ sỹ và bà thích ngồi trên mình tôi để suy tư, đọc và viết.

Bà không thể hình dung được mối tình của tôi đối với thiếu phụ đó đâu. Nàng là người đàn bà Nhật đầu tiên mà tôi được may mắn gần gũi. Hơn nữa, nàng có một thân hình tuyệt đẹp. Nàng đúng là người đàn bà lý tưởng mà tôi tôn thờ. Nàng đúng là thần tượng của tôi.

Tình yêu đã đến với tôi và đến vời một mức độ thật cao. Tôi không thể xa nàng một phút.

Những lúc vắng mặt nàng tôi thấy nhớ nhung lạ thường. Lòng tôi trống trải không chịu được. Tôi chờ đợi từng phút từng giây để được gần nàng. Mối tình đó có thể so sánh với mối tình của chàng Rômeo và nàng Juliet.

Dần dần, tôi muốn biểu lộ mối tình của tôi đối với nàng. Nhưng biểu lộ bằng cách nào đây? Nếu tôi chường mặt ra thì có lẽ nàng sẽ ngất xỉu vì ngỡ là ác quỷ hiện hình. Hoặc là nàng sẽ kêu ầm lên và chồng nàng cùng bọn gia nhân sẽ xông vào vây bắt.

Không, tôi sẽ không bao giờ chường mặt ra. Tôi phải tìm cách khác. Và cách đó là cố gắng đem lại đầy đủ tiện nghi cho nàng khi nàng ngồi lên chiếc ghế. Tôi muốn làm thế nào đó để nàng thấy chiếc ghế là một người bạn chí thân, một người bạn không thể thiếu được, và như vậy là tôi thoả mãn lắm rồi.

Tôi luôn luôn cố gắng để làm cho nàng thoải mái mỗi khi nàng ngồi lên mình tôi. Khi nàng ngồi lâu và bắt đầu thấy mỏi thì tôi từ từ nhích đùi đi để nàng được dễ chịu hơn, ấm cúng hơn. Khi nàng chợp mắt thì tôi nhẹ nhàng lắc lư để ru nàng đi sâu vào cõi mộng.

Tôi có cảm tưởng là nàng cũng yêu chiếc ghế vì mỗi lần ngồi lên, nàng có cử chỉ sung sướng như một đứa bé được mẹ ôm trong lòng, hay một cô gái âm yếm với tình nhân.

Mối tình câm nín của tôi mỗi ngày một gia tăng và tôi dám chết một cách thoả mãn nếu chỉ được giai nhân nhoẻn cười với tôi một lần thôi.

Thưa bà, đọc đến đây có lẽ bà đã đoán được giai nhân đó là ai rồi&#33; Nói gần nói xa, không qua nói thật, người đó chính là bà.&#33;

Ngay từ lúc ông chủ mua chiếc ghế, vừa đưa vào thư phòng thì tôi đã bắt đầu biết được những sự đau khổ xem lẫn với sung sướng của kẻ dám đắm hồn trong biển tình.

Những lúc được gần bên bà là những lúc sung sướng nhất đời tôi. Nhưng càng sung sướng bao nhiêu, tôi càng xót xa, đau khổ bấy nhiêu, bởi vì tôi là một kẻ xấu xa ghê tởm.

Tôi chỉ xin lỗi bà một điều. Có thể nào bà cho phép tôi được gặp bà một lần chăng? Tôi sẽ không xin hỏi gì thêm. Có lẽ tôi là một kẻ hoàn toàn không sứng đáng cho bà gặp, nhưng tôi hy vọng bà sẽ rộng lượng ban cho tôi một ân huệ vì lòng nhân đạo.

Đêm qua, tôi đã lẻn ra khỏi biệt thự của bà để đem hết tâm tư viết lên những lưòi thú tội này. Bà biết chăng, trong khi bà đọc bức thư này, tôi đang lang thang bên vườn hoa bên ngoài, lòng thấp thỏm lo âu.

Nếu bà chấp nhận lời van nài của tôi, xin bà treo chiếc khăn tay của bà lên trên lọ hoa bên ngoài cửa sổ phòng bà. Khi đó tôi sẽ bước vào biệt thự với tư cách là một người khách nghèo hèn...".

Bức thư kết thúc ở đó. Trước khi đọc hết bức thư, linh tính báo cho bà Yoshiko biết trước bà là nhân vật chính trong chuyện quái đản này. Mặt bà tái xanh không còn giọt máu.

Như một lò xo, bà đứng lên, chạy ra khỏi phòng. Bà tránh xa chiếc ghế mà trong mấy tháng qua, bà đã ngồi lên đó hàng giờ, ngồi một cách thoải mái.

Có lúc bà muốn ngừng lại giữa chừng, xé nát bức thư, nhưng bà lại đổi ý, cố gắng đọc hết câu chuyện.

Khi đã đọc xong, bà thấy linh tính đã báo rất đúng chiếc ghế "ưng ý nhất" của bà có chứa một người thật chăng? Nếu đúng như vậy thì thật là một chuyện quái đản rùng rợn.

Và càng nghĩ bà càng nổi da gà, lạnh buốt xương sống, dường như có ai đó đổ nước lạnh vào lưng.

Bà nhìn sững lên trời như người lên đồng. Một lúc sau bà mới bình tĩnh để suy nghĩ.

Có nên xem xét chiếc ghế để tìm hiểu thực hư chăng? Bà tự thấy không đủ can đảm bước gần chiếc ghế ma quái đó.

- Thưa bà, có thư...

Bà Yoshiko giật nảy mình trước tiếng nói bất ngờ đó. Quay lại, bà nhận ta có người đang đứng trước cửa, tay cầm một phong thư.

Bà cầm lấy phong thư và kêu lên một tiếng hãi hùng.

Lại một bức thư của con người ghê ghớm ấy&#33;

Tên của bà hiện rõ trên phong bì, cùng với nét chữ như cua bò quen thuộc.

Bà do dự một lúc thật lâu, phân vân không biết nên bóc thư ra không.

Sau cùng, cố thu hết can đảm, bà xé phong bì, bóc thư ra đọc.

Bức thư thứ hai rất ngắn:

"Xin bà bỏ qua cho sự đường đột của tôi khi gửi thêm cho bà một bức thư thứ hai. Tôi xin nói ngay cho bà an tâm. Tôi là một trong những người ái mộ văn tài của bà. Bản thảo mà tôi gửi đến bà dưới hình thức một bức thư, đó chỉ là một chuyện hoàn toàn tưởng tượng.

Tôi sáng tác câu chuyện quái đản này khi biết ông nhà mua chiếc ghế đó...

Đây là tác phẩm đầu tay của tôi, nếu được bà phê bình thì thật là vạn hạnh cho tôi.

Bà nhận xét nó thế nào? Nếu bà thấy nó lý thú phần nào thì đó là một phần thưởng lớn lao cho cố gắng viết văn của tôi.

Trong thư đầu, tôi không nêu tên truyện ngắn của tôi vì tôi muốn bà nghĩ đó là một bức thư.

Bây giờ tôi xin phép được đặt cho nó một nhan đề là" Chiếc ghế đa tình", không biết bà có đồng ý hay không?".

Trân trọng kính chào bà và chúc bà được vạn sự như ý&#33;".
__________________

khungbotumlumtele
10-09-2005, 03:40 PM
NỖI LO SỢ CỦA SWANHILD

Chương 1

Đang đọc sách, Swanhild dừng lại. Trong khoảng có nửa giờ nàng trông lên đồng hồ những năm lần. Mỗi phút nàng một thêm nóng ruột. Mười hai giờ ba mươi lăm rồi. Sao vằng vặc đầy trời và đêm lạnh giá như thế này mà Oliver, anh nàng vẫn chưa thấy về.
Oliver với Swanhild là hai người cuối cùng còn lại trong dòng họ Hammond, ở với nhau vẫn rất thuận hòa, rồi từ sau chiến tranh và từ ngày Reggie, người anh cả chết đi, dây thân ái của hai người càng thêm khắng khít.
Tối hôm đó tâm trí người thiếu nữ lại bị ám ảnh vì câu sấm truyền lại từ đời tổ tiên nhà nàng.
Ở đâu thông mọc um
Đêm sao tạnh và rét,
Gia trưởng nhà Hammond
Sẽ gặp phải lúc chết.
Bên ngoài gió bão tự miền bể thổi tới, bao vây cả lớp dinh cợ Những tiếng ồ ạt không ngớt tưởng như thấy mông mênh vô cùng. Bốn phía tường đầy tiếng gió gầm rít không tới được tai người thiếu nữ và trong gian phòng Holbein (#1) là nơi nàng đang tĩnh trú, sự im lặng như chết kia trùm phủ quanh nàng lại có vẻ đáng e ngại hơn lên giữa những trận giông tố hoành hành.
Quang cảnh khắp gian phòng càng khiến nàng thêm băn khoăn lo sợ. Hai bên lò sưởi, hai bức ảnh mập mờ (chưa chắc đã là do Holbein vẽ) phô diễn chân dung Godfrey Hammond và bà vợ, cả hai đều bị con quỷ nghìn đời ở Dannow ám hại năm 1556 trong một đêm giá lạnh như băng. Giữa hai bức treo đó, chân dung ông thân sinh Godfery tục danh là Sir Magnus Pháp sư: ông này tự tử chết sau lúc đã thắng nổi con quái vật.
Swanhild lại nhìn lên đồng hồ lần nữa và mắt nàng trông lướt qua ba bức tranh. Nhà chỉ thắp có một ngọn đèn, khác nào một khu ấm áp, sáng sủa nhỏ nhoi, ở lẻ loi giữa cả một miền mênh mông vắng lạnh của gian phòng tường lát gỗ và đầy những hình bóng chập chờn. Khi lửa không bập bùng cháy nữa trong lò thì bao nhiêu sự hoạt động của cả nhà đều tắt hết.
Swanhild là một cô gái hai mươi, dáng dong dỏng cao nhưng vẻ người khỏe mạnh, nét mặt quả quyết, đôi mắt mờ xanh lặng lẽ và mở tọ Mớ tóc hung vàng trùm sau khuôn mặt một màu vàng ánh tuyệt đẹp, phơn phớt màu từ da đồng tới màu sáng tương tự như bạc. Nàng quả là dòng dõi của ông Magnus Pháp sư kia. Dòng dõi người có khuôn mặt phai mờ, nét mặt rắn rỏi, dưới cái mũ kiểu Tudor và nổi bật trên nền đen tối của bức tranh.
Người đầu bếp Walton lúc ấy đi vào, ngoài mặt thì ra điệu vào để nói mấy câu chuyện với cô chủ. Thực ra thì lão ta vào đây là cốt để khuây khỏa bớt nỗi lo ngại của chính mình. Lão ngượng ngập bảo Swanhild:
- Cậu Oliver nhà về khuya quá cô nhỉ&#33;
- Miễn là đừng xảy ra những điều chẳng lành cho anh ấy là may rồi.
- Thưa cô, thiết tưởng bao giờ cũng nên ngại rằng cậu nhà phải gặp chuyện không haỵ Đêm như đêm nay thì thế nào cũng có anh em nhà tên Ades.
- Anh em nhà ấy chỉ là những tên đi đánh bẫy thôi, sợ gì.
- Nhưng thưa cô, cô còn lạ gì những kẻ đã đi đặt cạm mắc bẫy để bắt những con vật vô tội như thế thì còn cái gì mà chúng chẳng làm? Anh em nhà Ades là những đứa hay mang oán, mà thằng Charlie thì vẫn còn tức giận về chuyện cậu Oliver sửa phạt nó tháng vừa rồi.
- Đúng lý ra họ có tức thì tức tôi mới phải, vì chính tôi bảo anh tôi đến chỗ họ mắc bẫy. Oliver chỉ muốn người ta bắt giam Charlie lại thôi.
- Dẫu sao thằng Bed với nó vẫn đã thề rằng hễ cứ gặp cậu Oliver ra ngoài trại là báo thù.
- Chính vì thế mà tôi yên lòng đấy, lão Walton ạ; Chúng nó đã nói ra miệng như thế thì không dám làm gì nữa đâu.
- Ồ, cô ạ, biết đâu là chừng mà…
Malton ngập ngừng rồi lại tiếp:
- Cậu Oliver nhà xuống Lower Dannow (Đa-nô-hạ) giá đừng chọn lối tắt qua rừng thì hay.
Swanhild chưa trả lời vội; người lão bộc vừa thốt ra những điều lo ngại của chính nàng. Sau cùng nàng mới nói:
- Về phần con quái vật thì không phải lọ Bốn mươi năm nay rồi mà chưa lần nào thấy nó.
- Nhưng thưa cô, đó không phải là một lẽ. Đã có hồi nó ở yên ròng rã một trăm hai mươi năm rồi, lúc hiện ra lại càng ghê gớm hơn trước.
Lão bất giác đưa mắt nhìn bức chân dung Warlock Swanhild rùng rợn khắp người. Nàng đành phải bỏ không thể giữ được mãi cái vẻ thản nhiên bề ngoài. Nàng thở dài, nói:
- Giá mà ta biết trước được lúc nào nó hiện ra nhỉ&#33;
- Biết trước thì cô định làm gì?
- Thì ta sẽ mời thầy Doyle đến, hay giáo sư Lodge hay cô Bartendale đến giúp ta.
- Bartendalẻ Cô này đã đến Dannow lần nào chưa ạ?
- Chưa. Tôi chỉ biết tiếng cô ta là người cao tay nhất trong những người có phép trừ tà giải nạn. Hình như ngoài cái khiếu tìm mạch nước, cô ta còn có tài trinh thám nữa kia&#33;
Walton lắc đầu:
- Ôi chao&#33; Đối với con quái vật nhà ta tôi chỉ sợ không ai có phép gì trừ được. Cô còn trẻ tuổi quá, cô ạ, chứ tôi thì tôi vẫn nhớ hồi Blavastsky với giáo sư Grookes đến đây sau cái ngày cụ thân sinh ra ông nhà ta khuất đi. Đến họ cũng chẳng tìm được phương kế gì nữa là…
Tôi xem ý ra thì có phàn nàn lão cũng chỉ phàn nàn đôi chút thôi. Vì nếu con quái vật nhà này không còn nữa thì cái thánh giá nhà này cũng kém bớt, có phải không nhỉ, chính thức ra thì đã hàng ngàn năm nay dòng dõi nhà Hammond bao giờ cũng gặp những cái chết dị kỳ với những vận rất may mắn…
Nàng chợt dừng lại: từ căn ngoài, tiếng chuông điện thoại văng vẳng đưa vào. Không hiểu tại sao, thiếu nữ với người lão bộc cũng thấy rùng rợn. Hai người vội vàng cùng ra.
Căn ngoài, một đại sảnh chạy dài ngang phòng, ánh đèn không được sáng. Ở một phía xa nhất, người đầy tớ gái hầu phòng vẫn ngồi đợi chủ về, lúc đó đang trả lời vào ống nói. Chị ta ngoảnh lại, khuôn mặt nổi một điểm sáng trong bóng mờ tối của căn nhà.
Cụ Walton ơi&#33; Cô ơi&#33; (chị ta nói tiếng nhỏ và nhát gừng) nhà gác cổng (#2) gọi dây nói vào bảo rằng con quỷ đang ở trong rừng… họ nghe thấy tiếng nó rú… vậy mà cậu Hammond vẫn chưa thấy về&#33;
Swanhild tưởng chừng quả tim ngừng đập, song nàng cố sức bình tĩnh lại. Nàng cần phải giữ sáng suốt để cứu Oliver. Nàng cầm lấy ống điện thoại ở tay giá lạnh của chị đầy tớ gái. Tiếng con trai người gác cổng hỏi:
- Allô, allô&#33;… sao không vào gọi cô Hammond ra?
- Tôi đây. Gì thế anh Will?
- Thưa cô, con quỷ ở trong rừng đấy&#33; Biết đâu không phải là một con chó bị mắc cạm?
- Ồ không&#33; Tôi ở dưới Lower Dannow về đây, tôi xuống đất lấy thuốc cho thầy tôi, lúc qua cầu tôi nghe thấy những tiếng rú nửa như tiếng chó tru, nửa như tiếng một con mẹ điên hú.
- Được rồi. Anh sắp sẵn cho tôi một cái đèn rồi đợi đấy nhé, hễ thấy xe ra thì tức khắc mở cổng cho tôi.
Ba hồi chuông điện đánh thức người tài xế dậy.
- Srewick, bác cho xe chạy và đánh xe ra ngay.
Swanhild chạy nhanh lên phòng riêng, rồi tức thời trở xuống với chiếc áo khoác ngoài. Tiện thể, nàng cầm theo cả khẩu súng lục của anh nàng Walton với chị hầu phòng (cả đầy tớ trong nhà chỉ có hai người này khuya thế vẫn còn thức) thì ngồi lì ở bên máy điện thoại.
Lão bộc kêu lên:
- Cô Swanhild&#33; Cô không không vào rừng bây giờ được&#33;
Sự khủng khiếp in trên đôi mắt lão ta khiến người thiếu nữ nghĩ đến sự thực. Từ ngày còn trẻ lão đã trông thấy lúc chính Reginald Hammond, tổ phụ Swanhild, trở về nhà sau khi gặp con quái vật trong rừng: chỉ trong mấy giờ đồng hồ mà tóc lão bạc hết.
Swanhild mở cửa chính cố tình xua đuổi nỗi sợ hãi xâm chiếm tâm hồn nàng.
Gió bên ngoài liền vây quấn lấy người thiếu nữ từ đầu đến chân.
Bên ngoài bức tường rào, những khóm cây, bụi rậm trông giống như những xe tang cắm lông chỏm. Đằng xa, miền thung lũng tắm trong một bầu sương phủ giá băng. Những ngọn sóng sau cùng phía bể bắc dồn về cồn cát, vật mình tan tác trên đỉnh cồn Thunderbarrow Beacon. Nhô lên khỏi khu rừng và nổi ra ngoài màn sương, một hình tượng quái gỡ vươn thân, đen sì trên một nền trời sao điểm.
“Thằng người Dannow” là một hình thù khổng lồ mà thời gian đã tạc vào những hang núi đá bờ bể, một tượng huynh đệ với hình Trường Nhân (Leng Man) gần Eastbourne và những hình “bạch mã” ở rải rác nhiều nơi trong nước Anh. Đêm hôm ấy “người Dannow” trông khác nào một con quỷ lớn lao phi thường đang vặn mình trong cơn hấp hối.
Trước sự lặng lẽ đáng gờm của ban đêm trống rỗng. Swanhild thấy mình vô cùng yếu đuối; không đủ sức để chống chọi với cái vật đã kinh ngạo tâm lực và can đảm của ba mươi thế hệ nhà nàng. Xe chưa đánh đến ngay được khiến nàng bực dọc. Thì giờ lúc ấy quí từng giây từng phút. Nếu Oliver mà thực mắc phải tay con quái vật ở trong khu rừng bí mật kia, trong cái nơi mà bao nhiêu tổ tiên nàng đã gặp cái chết kinh khủng, thì chỉ có nàng có thể cứu được anh nàng, rồi chính dù có chết một cách ghê gớm hoặc phát điên rồ đến hủy hoại tính mệnh, nàng cũng cam tâm. Bởi vì trong dòng họ Hammond tất cả những người mắt trông thấy cái sự ấy đều quyên sinh hết: từ tổ phụ nàng rồi Warlock, Sir Magnus, rồi vợ chồng Godfrey cho đến bao nhiêu người khác nữa cũng vậy&#33; Họ đều muốn thà chết đi còn hơn là sống để phải nhớ mãi cái ác mộng quái gở mà không một người nào chịu tiết lộ ra.
Swanhild mở to mắt nhìn và lắng tai nghe ngóng chiếc xe hơi, bỗng một cái mõm lạnh giá chạm nhẹ vào bàn tay nàng:
- Alex&#33; (nàng vừa nói vừa vuốt ve con chó lúc nãy theo nàng ra) Alex&#33; Suýt nữa tao quên mất mày đấy.
Nàng định sẽ cho con vật có nghĩa đi cùng, vì nàng đã thừa biết rằng khắp vùng đó, không một người nào dám xông pha vào rừng trong cái đêm kinh hoàng ấy.
- Thưa cô (lời lão Walton) cô đi một mình bây giờ thì tôi không thể nào đành lòng được. Tôi cũng đi với cô.
Lão nói câu ấy với một giọng quả q uyết của lòng tuyệt vọng. Hàm răng cầm cập va vấp từng tiếng; tay lão bấm chặt lấy khung cửa hình như chính sự cả gan quá sức khiến lão không đứng được vững vàng.
Swanhlid lắc đầu:
- Thôi, được&#33; Có lẽ đây cũng chỉlà một chuyện dè chừng thôi, chưa có gì đáng sợ. Tôi muốn ông cứ ở nhà coi nhà. Ông đi nói cho bà ấy đỡ lo đi&#33;
Lão mở miệng toan cãi thì đương lúc ấy ánh đèn pha chiếu sáng lụt nhà: chiếc xe hơi tiến đến đỗ trước cửa. Người lái xe, bộ áo tài xế mặc vội lên bộ quần áo ngủ, nhảy xuống.
Swanhild bảo hắn:
- Stredwick, đến rừng Thuderbrrow.
Sự kinh khủng hiện lên gương mặt người tài xế&#33; Hắn run run tiếng đáp:
- Bẩm… tôi không thể đến đấy được. Con quái vật ngày xưa cũng đã bắt mất một người họ nhà tôi.
Chuyện ấy quả có xảy ra thực, Swanhild không muốn ép hắn. Nàng bảo:
- Mở cửa xe ra.
Nàng tự cầm lái, để con chó Alex ngồi bên cạnh; cho xe băng sấn qua chiếc cầu kéo(3) tiếng ầm như sấm dậy, rồi theo lối thẳng chạy ra phía cổng trang.



Chú thích:

(1-)Holbein: Phòng treo những bức vẽ của Holbein (1497 – 1543), một họa sĩ trứ danh dưới triều vua Herry VIII, bên Anh.
(2-) Nhà gác cổng: Nhà giàu miền quê bên Anh, ngoài cổng vẫn có nhà riêng cho gia đình người gác ở. Dây điện thoại liên lạc vào tận tư thất của chủ nhân (ND).
(3-) Chiếc cầu kéo: Thứ cầu kéo lên hạ xuống được ở cửa thành cổ hay dinh thự cổ. Khi hạ xuống là lối ra vào, khi cất lên là một thứ cửa đóng rất kiên cố.)

khungbotumlumtele
10-09-2005, 03:42 PM
TRONG RỪNG
Chương 2

Chiếc xe chạy đều trên lớp sỏi trải phẳng. Gió vụt hai bên má Swanhild. Đến những khuỷu đường, ánh sáng đèn pha tràn phủ lên các khóm lá và những thân cây lớn hình như chen chúc xô đẩy dưới vòm xanh chằng chịt những nhánh cành.
Đã thấy được nhà người gác rồi. Ánh lửa đỏ của hắn treo chiếu lên những cột sắt lớn vặn mình ở hai bên cổng mở. Vì có đèn đường xe lửa chạy qua, đường đá phải ngoặt về phía tay phải, rồi ăn dốc xuống phía cầu. Swanhild cố lắng tai mà không thể nhận được tiếng tăm gì khác lạ. Nàng thấy như con chó săn lớn ở cạnh nàng nhô người lên, rồi lại ngồi xệp xuống nệm xe, vừa run sợ vừa nép vào bên cô chủ. Nàng chợt nhiên tái hẳn người đi, vì nàng hiểu rằng linh giác loài vật bao giờ cũng vẫn rất tinh tường: chỉ mới đánh hơi thấy gió thổi từ Beacon lại mà con chó săn rất bạo dạn kia cũng đến len lét khiếp sợ đến thế&#33;
Chiếc xe hơi qua cầu, rẽ sang tay phải rồi bon bon trên một quãng đường dài, một bên có rặng cây mọc như hàng rào phủ đầy bụi cát chạy thoải đến tận một cái suối nhỏ lấp loáng từ phía đồi núi ăn ra. Những bụm cây, những tường đổ nát, vây quanh những khu nhà cửa tiều tụy mù tối, chỉ có những điểm sao làm đèn. Đằng xa là một thung lũng mờ sương và cái mô đất trên đó sừng sững cái hình thù quái gở.
Qua khỏi chỗ làng xóm thì những mỏm cao miền Beacon hạ thấp dần xuống, con đường nổi rõ một cách tuyệt diệu, chạy dài ở giữa khoảng bát ngát của vùng cây cối hoang vu.
Swanhlid biết rằng tối hôm ấy anh nàng sang bên Mansby Place, đến chơi nhà Goidard Covert là bạn thân của chàng. Nàng thầm mong rằng Oliver vẫn còn ở đấy chuyện trò cho đến bấy giờ. Mắt nàng đã thuộc phong cảnh ở đây nên nhận rõ được lớp nhà hình đen ngòm nhô trên nền đất. Chỉ thấy có ánh sáng mờ yếu ở cửa sổ thượng. Thế thì Oliver hẳn đã ra rồi vì người bạn của chàng đã về phòng riêng và chắc đang cặm cụi luyện, tán những chất hóa học.
Nàng đồ chừng có lẽ anh nàng đã qua rừng trở về nhà bằng một lối xuyên lâm, con đường nhỏ do những đàn súc vật đã vạch sẵn, Theo lối đó, chàng cũng có thể qua thung lũng mà về trang trại của nhà.
Bao nhiêu điều phỏng đoán ấy hỗn loạn trong óc Swanhild trong lúc nàng phóng xe vào con đường nhỏ. Nàng quặt xe ra phía tay phải, bánh xe lướt trơn trên mặt đồng tuyết đóng và sau cùng lăn trên lối cỏ mọc rậm rì. Nàng để cho tâm linh dìu dắt, qua một bể sương sa mù mịt phủ đầy khu thung lũng. Chiếc xe xông lên tiếng máy rầm rầm và đôi lúc chồm vấp.
Dưới vòm trời vằng vặc ánh trăng lạnh lẽo, nàng cho xe leo lên dốc đồi Beacon và sau cùng tới cửa khu rừng.
Con Alex không còn vẻ nào là sợ hãi nữa.
Những tiếng rên rĩ thì thầm trong những vừng cây bị gió to hành hạ dồn đến quanh người thiếu nữ. Cả một trận dông tố của những thanh âm thê thảm vây bọc lấy nàng: tiếng lắc rắc của cành nhánh vật mình, tiếng rì rào của những bụi cây khóm lá, tiếng xào xạc của lớp cỏ bị dày vò.
Ngọn đèn cầm chắc trong tay, tâm hồn điên cuồng khiếp sợ, Swanhild tiến bước lên, người vừa nóng ran vừa giá ngắt. Cây trong rừng phần lớn là thông, sam – mộc và dẻ, vươn những thân hình ảm đạm trong đêm và che kín cả bầu trời. Thỉnh thoảng, một chút sáng lọt xuống, qua những cành cao của một cây bạch – mộc trụi lá.
Giữa cảnh trí hãi hùng ấy, Swanhild chỉ sợ những sự xảy đến thình lình, chẳng hạn rơi xuống tự trên một chòm cây nay bật lên từ dưới âm ty, ngay cạnh người thiếu nữ.
Con Alex đi trước mặt nàng, đầu lắc lư.
Chốc chốc nàng lại lớn tiếng gọi tên anh nàng, vừa mong được trả lời lại vừa sợ tiếng nàng lọt vào những tai khác. Trong khu rừng om tối như hầm kín này, biết đâu chẳng chất chứa cái sức giết người ghê gớm&#33;
Một tiếng chưa rõ rệt khiến nàng quay lại, nàng chỉ thấy đằng xa hai mắt đèn xe của nàng. Nàng rẽ sang một nẻo quặt thì không trông thấy ánh đèn kia nữa, thế là nàng mất cả sự liên lạc cuối cùng với trần gian.
Đến một chỗ, đường phân nhiều ngả, nàng nhận ra như có người vừa quạ Trên mặt đất đóng váng không còn dấu vết nào, nhưng cỏ ở đầy dẹp xuống và bị dầy xéo. Hốt nhiên con Alex chạy đến một con đường ăn ra gần một cây sến mọc ở một khu quang đãng nhỏ. Con chó ngừng lại chỗ ấy hít một khoảng đất ra vẻ sợ sệt. Swanhild hạ thấp ngọn đèn xuống, soi thấy một vũng máu đọng và màu đã thâm, rồi đến một khoảng thẫm hơn thấy trên thân cây, tầm ngang đầu người, một đống thịt bị xé nát trông rất ghê tởm, be bét dưới gốc cây.
Tim người thiếu nữ như ngừng đập. Nàng nhận ra đó là con chó của anh nàng, một giống chó to lớn như con bệ Một chân sau con chó bị rứt ra khỏi mình, còn mình con vật thì bị vặn nhàu bóp nát trông không ra hình thù gì nữa, rồi bị quật mạnh vào thân cây sến: đủ biết nó bị giết hại bởi một sức quái gở phi thường.
Sau khi buồn rầu hít ngửi cái thây chết của đồng loại, con Alex lại bước đi và dừng chân trước một cây thông cực lớn bị sét đánh thủng một phần thân cây; Oliver nằm sóng sượt trên một giải lá thông và quả thông khô, đầu gối lên một vũng máu.
Swanhild đặt chiến đèn xuống đất, xốc anh nàng lên cho dựa vào thân cây sến. Cái khăn quàng dây bằng lụa của Oliver vừa bẩn, vừa nhàu nát và các đường nếp giá băng; hai ống tay chiếc áo khoác thì bươm rách. Mặt chàng sưng vều lên gần hết, hai cánh tay và bàn tay vừa lấm đen, vừa bầm đỏ thì lạnh ngắt và cứng đờ. Máu các chỗ đã đông lại từ lâu. Swanhild không biết máu cầm là vì người đã chết rồi hay vì trời rét. Nàng cố nghe quả tim của anh nàng nhưng không thể nhận thấy một nhịp nào, vì trống ngực nàng đập mạnh quá.
Nàng đứng dậy, thẳng người nhìn ra quanh mình: những bụi cây gai góc bị gẫy nát, dày xéo, thuật lại một cuộc vật lộn vô cùng dữ dội. Bỗng nhiên, có tiếng kêu rất nhỏ, đưa ra từ cái hốc cây bị sét đánh. Swanhild sởn tóc gáy, tai hết sức nghe ngóng, chân bước lại gần Oliver và trỏ mãi ngón tay vào cái cây có tiếng lạ cho con Alex sục tìm xem. Con chó ngoảnh đầu đi, lưỡng lự, đánh hơi về phía tay chủ khiến rồi đến bên chân chủ đứng nhìn. Gió thổi dồn lẫn muôn nghìn tiếng dị kỳ, ào ào trút như phong ba xuống những khóm cây và đầu dốc.
Sau cùng, người thiếu nữ hướng về trước, dõng dạc nói, giọng lạc đi:
- Muốn sống thì ra ngay, không ta bắn&#33;
Không thấy đáp lại, nàng liền bắn một phát súng lục về phía cây. Vẫn không thấy gì ngoài mấy tiếng vỏ cây vỡ, rơi xuống. Phát đạn nổ vừa rồi như trừ diệt hết mọi tiếng tăm khác: kế đó là một sự im lặng nặng dầy. Không kịp để ý đến cử chỉ của mình, nàng cầm ngay chiến đèn lên và soi ánh vào trong hốc tối, nàng hét lên một tiếng:
- Chị Kate Stringer&#33;
Cái cảnh tượng nàng trông thấy kia, không bút nào tả nổi. Tất cả sự kinh khủng thấy ở cái thây nát của con chó lớn lúc nãy cũng không còn gì, nếu đem ra so sánh với điều nàng mới nhận ra.
Tâm thần nàng thành ra hỗn loạn. Nàng lấy hết sức mạnh trong cơn nguy khốn tuyệt vọng, xốc cho anh nàng đứng được lên. Rồi, cố gò người xuống, nàng vừa cõng Oliver trên lưng; chân anh nàng buông thõng kéo lê dưới đất. Nàng chụm hai cánh tay Oliver giữ chặt trong tay mình, quàng hai cánh tay ấy vào cổ mình, rồi bỏ cây súng lục vào túi bên phải chiếc áo phủ ngoài, đề phòng lúc nguy cứ việc đưa tay và lấy ngay được. Nàng dùng bàn chân đẩy cho đèn quay chiếu ra lối đi, để có ánh sáng tới chỗ nàng có thể trông thấy đèn pha được. Gắng một sức cuối cùng nữa, nàng ngước lên, khom cúi dưới cái vác nặng đè trĩu trên lưng.
Lúc bước gần thây con chó lớn, Swanhild chợt nhận thấy rằng chính nàng có thể là cái đích rất rõ để cho cái sức tàn hại độc ác kia nhằm lên. Một ngành gai chơm chởm quấn vào chân nàng, khác nào một bàn tay kêu quào những móng sắc. Nàng phải ấn mình anh nàng vào một thân cây giữ cho khỏi tụt xuống, mới gỡ thoát được nhành gai. Mắt đã quen tối, nàng trông thấy cái mình lông trắng của con Alex tiến trước mặt như một điểm sáng mờ. Rồi ánh đèn pha chiếc xe hơi cũng hiện ra, xuyên qua những hình đen sì của cây cối.
Swanhild giữ chặt chẽ lấy chút đảm lực còn lại và sau hết ra khỏi được bóng cây rừng. Nàng buông dần cho anh nàng tụt xuống đất và gieo người ngồi xệp một bên đợi hoàn hồn. Nàng kéo người thiếu niên vào lòng: đầu chàng ngặt ra một cách thảm hại. Nàng ngẩng trông về phía rừng và thầm tạ Ơn rằng được thoát nạn, trong lúc này Oliver không việc gì nữa, vì chỉ ở dưới bóng thông trong rừng con quái vật mới giết hại người.
Nhưng nàng còn phải làm nốt một việc nữa, khó khăn nhất: còn phải trở vào rừng tìm kẻ bị nạn thứ hai. Trong lúc ngần ngừ, nàng tìm cách tự nhủ lòng rằng anh nàng hiện vẫn còn sống và nếu tìm ngay thầy thuốc chữa chạy tức khắc thì có lẽ cứu được mệnh chàng. Vậy bổn phận đầu tiên của nàng là hãy săn sóc đến anh nàng trước đã. Còn như Kate, tuy mấy phút trước còn thoi thóp thực đấy, nhưng bây giờ chắc cũng chết rồi.
Swanhild xốc Oliver lên, bế đặt lên xe, lấy tấm chăn nàng đã mang theo sẵn đắp kín cho chàng, rồi mở máy. Một cuộc chiến đấu kịch liệt nổi lên trong tâm trí nàng. Nàng tự nghĩ: thế ngộ chị Kate vẫn còn sống thì sao? Mà Oliver thì chết rồi cũng không chừng? Chính nàng, nàng thoát khỏi tay quái vật một lần vừa rồi, nhưng nếu nàng lại trở vào trong rừng thì liệu nó có để yên cho nàng lần nữa không? Sau cùng, Swanhild tính đến một kế nước đôi: là anh nàng về nhà rồi trở lại tìm chị Kate… Phải đấy. Nhưng mà nếu thế thì ra Oliver sống được là bởi sự bỏ liều người con gái đáng thương kia sao? Không, một người dòng dõi quý phái ở Dannow như nàng đây không thể làm một việc như thế được, dù để cứu sống anh nàng cũng không đành.
Swanhild lại chạy vào rừng sau khi giao cho con Alex đứng canh giữ Oliver. Nàng băng băng xông vào trong bóng tối, không nghĩ đến sự khủng khiếp quanh đó, cũng không nghĩ đến sự táo tợn của chính mình, chỉ thấy hăng hái vì những ý niệm về nghĩa vụ.
Khi tới chỗ hốc cây lớn và khi lại trông thấy cái người bạn gái vẫn chơi đùa với mình xưa nay, người thiếu nữ mà mới buổi chiều vừa rồi còn cùng nàng cười cợt bông đùa, giờ đã thành cái đống trông kinh sợ như thế thì nàng phát hoảng cả người lên. Giữa khuôn mặt trước xinh đẹp nhất vùng, hai con mắt lờ lờ xanh mở nhìn nàng một lát trước khi nhắm lại.
Mấy phút sau Swanhild đã trở ra được và đặt người con gái đáng thương ấy bên Oliver. Muốn quay xe, nàng phải cho tiến vào trong bóng rừng cây nhưng không xảy ra sự rủi ro nào hết.
Lại thấy đường cái rồi. Nàng phóng xe xuống dốc, xông vào khu thung lũng mù sương. Nàng tưởng chừng từ lúc ở Dannow đi cho đến lúc xe hơi lại trở về đến xóm, cách nhau kể có hàng nghìn năm. Nàng tính: cách tốt nhất bây giờ là về thẳng trong trang. Mấy phút nữa xe tới cổng, nàng sẽ bảo người gác tức tốc đi mời bác sĩ, ông này ở cách nhà nàng hơn một giờ rưỡi đường đất.

khungbotumlumtele
10-09-2005, 03:42 PM
OLIVER KHÔNG CÒN NHỚ RÕChương 3
Lão Walton cùng với người lái xe Stredwick, mặt xám không còn hột máu, kinh hoảng hiện trên đôi mắt mở to, xúm lại bên xe hơi khênh Oliver vào trong đại sảnh. Cùng với một người đầy tớ gái, bà vợ lão Walton đã chờ sẵn ở đó; bà này lúc chưa lấy chồng đã làm nữ khám hộ, người đứng đắn, đảm đang và không bối rối trước những cơn nguỵ Bà ta bảo hai người đàn ông:
- Đặt cậu ấy lên ghế bành kia&#33;
Swanhild bước vào theo, tay bế Katẹ Lúc ấy nàng mới mơ hồ nhận thấy rằng mình vừa làm được một sự phi thường. Nàng đặt cái ôm nặng trong tay xuống một cái ghế bành khác.
Bà lão Walton xem xét Oliver một lát rồi nói:
- Đầu bị thương khá nguy hiểm&#33; Cũng may cái khăn quàng đỡ được đôi chút; còn những dấu vết ở cổ ở mặt thì cũng nhẹ thôi. Vì trời rét mà máu đông ngay được. Mà kìa&#33; Cậu ấy dần tỉnh lại rồi đấy. Ông Walton&#33; Mau rót cho cậu ấy ít rượu mạnh.
Trong giây lát, Swanhild thấy khắp phòng quay lộn một lượt: Oliver còn sống, thế là nàng yên lòng. Bà lão Walton đến bên Kate nhắc cái áo phủ đắp kín trên người nàng lên. Tuy đã quen mắt thấy nhiều kẻ bị thương, bà ta cũng không khỏi rùng mình. Bà kêu lên một tiếng khiếp sợ:
- Trời đất ơi&#33; Thựa tôi chưa từng trông thấy những cái gớm ghiếc đến thế này bao giờ. Ấy thế mà chính tay tôi đã hai lần lượm xác những người bị nạn xe lửa rồi đấy&#33; Tội nghiệp&#33; Cô Kate Stringer đây, mà tôi không nhận ra được cô nữa&#33; Trông cứ như làbị cọp cào xé cũng không bằng&#33; Cô Swanhild, cô với tôi hãy cứ đặt cô ấy nằm thẳng xuống đã, đợi bác sĩ đến cũng vừa&#33;
Ngay lúc ấy Oliver mở mắt ra, hai mắt sáng một cách kỳ quái trong cái gương mặt máu đỏ nhuộm hoen.
Chàng ngoảnh nhìn bốn phía quanh mình, ra vẻ ngơ ngác.
- Sao lại?…
Chàng nói chưa dứt bỗng nhìn thấy người Katẹ Vẻ kinh dị mất hẳn, nhường chỗ cho một vẻ khiếp sợ. Không để kịp ai giữ lại, chàng đã đứng dậy, cúi xuống nhìn người thiếu nữ bị nạn một hồi lâu.
Chàng khẽ kêu lên:
- Kate&#33; Trời ơi&#33; Kate bị con quái vật hại rồi&#33;
Rồi chàng ngất người trong tay cô em gái. Bà lão Walton nói:
- Bị xúc động mạnh quá, không thể gượng được nữa. Walton với Stredwick, hai người khiêng cậu sang phòng ngủ.
Bà ta quay lại, giọng quả quyết nói với Swanhild:
- Cô với tôi lên buộc lấy vết thương cũng được.
Chuông điện thoại reo. Người đầy tớ gái nhỏ tiếng bảo cô chủ:
- Bác gác báo tin bác sĩ Newton mấy phút nữa sẽ đến. Lúc ấy Oliver lại hồi tỉnh dần dần.
Diện mạo Oliver giống em gái như đúc, nhưng mớ tóc rất đậm của chàng màu đen và hai mắt xanh thẫm hơn. Trừ bên thái dương mang một chỗ sưng u lên khá lớn, cả khuôn mặt chỉ bị xây xát nhẹ thôi.
Chàng cất tiêng hơi rè, gọi em:
- Này Swan&#33; Sao tôi lại ở nhà thế? Tôi cứ tưởng vẫn ở bên anh Gođard đấy&#33;
Chàng đưa tay quấn băng sờ lên trán ngượng ngập hỏi:
- Lại có băng buộc&#33;… Tại sao tôi lại phải nằm thế này?
Swanhild vội đáp:
- Em tìm thấy anh ở trong rừng đấy.
- Nhưng sao lại trong rừng&#33;… Tôi không còn nhớ được tí gì hết. Sau khi ở dưới Dannow ra về…
Tiếng nói của chàng thấp xuống, nghe không được rõ.
- À, à&#33; Tôi đã sắp nhớ ra rồi… Tôi đánh nhau với con quái vật… Này Swan ạ&#33; Khốn nạn cô Kate&#33;… Không thể nào đánh lui được con quái vật.
Swanhild cúi xuống giường và đặt bàn tay mát rượi lên cái trán nóng bừng của Oliver. Nàng dịu dàng an ủi chàng:
- Thôi&#33; Anh ạ, anh đừng quan tâm đến việc ấy.
Chàng nức nở khóc:
- Lần này là lần đầu tiên con quỷ truyền kiếp của nhà ta xông đến hại một người đàn bà&#33; Mà cũng lỗi tại anh: nếu anh không chống cự kịch liệt với nó thì nó không hại đến Kate&#33;
Swanhild ngắt lời nói:
- Anh Oliver, thế… anh trông thấy thế nào?
Chàng nhíp mắt lại:
- Em muốn cho anh tránh khỏi cái số phận của tổ phụ chúng ta chứ gì? Bây giờ thì anh chẳng còn nhớ gì cả.
Nhưng trong lúc đó, nàng thấy ánh lên trong mắt chàng một tia lửa đỏ, dấu hiệu một sự xúc động mạnh. Chàng hét lên:
- Reggie (#1)&#33;
Swanhild cũng kêu:
- Oliver&#33; Chẳng lẽ anh mà cũng tưởng… Không anh điên rồi&#33; (Nàng nói câu ấy vì thấy Oliver không cãi). Tôi mong rằng anh điên thực đấy.
- Không, anh không điên. Anh biết trước người quê vùng này họ sẽ bàn tán những gì rồi. Họ cho rằng… (chàng thấy rất khó nói) Reggie đã hóa ra… thần trùng hút máu (#2), mà từ khi anh ấy mất đến nay bây giờ trời rét mới đóng giá lần này là lần đầu…
Swanhild vội ngăn lại:
- Suỵt&#33; Anh cứ thuật lại những việc xảy ra đêm hôm nay cũng có thể phá tan cái thuyết dị đoan khả ố ấy.
- Nhưng anh không trông thấy gì hết, hay là anh không có thể nhớ tí gì. (Chàng đưa tay lên ấn thái dương và nói tiếp). Đầu anh có bị thương ko?
- Có một vết sưng lớn. Chắc anh ngã nên bị.
- Có lẽ… Mà chắc hẳn vì cái ngã mạnh ấy mà anh không thể nhớ được các điều.
Bác sĩ Newton bước vào.
Ông là một người to béo, mặt mày tỉnh táo, dù giữa lúc đêm khuya. Bao giờ cũng lạc quan trước đã, ông nói quyết ngay:
- Ông Hammond, ông đã kêu to được, thế là triệu chứng tốt rồi đó.
- Thưa bác sĩ, tôi bây giờ chỉ thấy trong người mệt lắm. Còn bệnh tình cô Kate thì thế nào?
- Bọn thanh niên thường vẫn dai sức chịu đựng; tôi mới chỉ nói được thế thôi. Bà Walton đang dọn cho cô ấy một căn phòng ở đây vì cô ta không thể nào mang đi xa được.
Ông xem xét cẩn thận Oliver, rồi kết luận:
- Không có gì đáng lo ngại hết. Khâu một mũi vào chỗ rách, thế là xong.
Ông gài nốt được một chiếc kim băng nữa thì chàng lại ngả mình xuống đám gối nệm. Ông hỏi:
- Thế nào? Hai người gặp tai nạn gì mà đến nỗi thế?
- Tôi ở Mansby Place trở về theo đường tắt qua rừng thì gặp cô Katẹ Cô ở với người ông, ở một túp nhà nhỏ cuối Dannow – hạ. Ông cụ Ốm nên cô ta đến nhà người gác kiểm lâm gọi điện thoại mời ông đến xem.
- À&#33; Nếu thế thì được rồi&#33; Bà Walton lúc nãy đã bảo gọi điện thoại mời ông bác sĩ Albury và cô Blacke nữ khán hộ. Họ đến là ta bảo đến ngay nhà cụ Stringer. Thế rồi sao? Ông bảo ông gặp cô Kate, rồi sao nữa?
- Tôi bảo cô để tôi gọi điện thoại hộ, vì tôi vừa đi qua nhà gác kiểm lâm. Cô Kate liền cùng với tôi trở gót lại cho đến chỗ cây thông bị sét đánh lủng. Lúc ấy tôi ngửi thấy rõ ràng một mùi thối nát đưa ra…
Oliver lại đưa tay lên thái dương, ngập ngừng. Ông bác sĩ liền đưa cho chàng một cốc thuốc ông vừa pha xong; chàng đỡ lấy uống ngay, không nghĩ ngợi. Swanhild nhận thấy mùi laudanum (#3) pha trong cốc thuốc.
- Tôi lấy làm lạ về cái mùi thối đó. Lúc ấy chúng tôi đi trong bóng tối hoàn toàn. Con Holder, con chó của tôi, thì nép sát mình vào tôi. Hốt nhiên, Kate hét lên một tiếng khiếp sợ&#33; Tôi thì cảm trước rằng một sự gì đang tiến đến trước mặt tôi. Tôi chắc chắn rằng con quái vật đã có ở đây, nhưng cũng chắc chắn rằng tôi sẽ thoát thân.
Swanhild gật đầu:
- Em hiểu rồi, anh ạ.
Chàng có ý tức giận:
- Không, đừng có cho tôi là một đứa nhút nhát hay một người điên&#33; Vả lại bây giờ tôi không cho cái gì là lạ lùng hết: sao sáng trên trời, thông trong rừng, cái rét lúc ấy và con quái vật bò trong bóng tối, tất cả mọi thứ ấy như lôi cuốn tôi vào một cơn sóng hỗn độn những cảm giác mơ hồ và quen thuộc. Sự ấy không có gì độc ác dữ dội, cũng không phũ phàng, nhưng chỉ kinh khủng&#33; Thực kinh khủng&#33;… Con Holder rên lên những tiếng sợ hãi, mà tóc tôi thì dựng đứng cả trên đầu&#33; Chừng như con chó biết trước được một sự khủng khiếp sắp xảy ra. Tôi nghe thấy tiếng tôi kêu Trời, cô Kate thì rú lên, con Holder cũng tru lên đáp lại. Trong nháy mắt, cái vật ấy chiếm lấy tôi. Tôi liền cuống cuồng chống cự lại, chống cự với một sức mà tôi không hiểu sức gì, ở trong một thứ bóng đen hình như có lóe ra nhiều tia sáng. Thế rồi tất cả thành tối tăm và có lẽ chính lúc đó là lúc tôi ngã quật xuống. Tôi mở mắt ra thấy ở phòng ngoài nhà này. Em Swan cũng ở đó, với cô Kate nữa… Trời&#33;
Oliver úp tay che mặt mà rên lên những tiếng buồn thảm.
Khi thấy con chó Alex đứng bên cạnh giường và nhìn chàng một vẻ quý mến, Oliver hỏi:
- Con Holder đâu?
Tưởng cứ nên nói thật ngay cho chàng biết, Swanhild đáp gọn một tiếng:
- Chết rồi.
- Con Holder chết rồi?
- Sau khi đã bảo vệ anh và cô Kate con chó bị xé nát cả mình. Đối với một con chó trung thành thực không còn cái chết nào đẹp được hơn thế.
Chàng than thở:
- Giá tôi đừng kháng cự thì tất con quái vật sẽ không hại Kate với con Holder&#33;
Giọng nói hạ thấp dần. Đã tới lúc buồn ngủ không thể cưỡng được nữa, chàng cũng gắng trỗi dậy:
- Swanhild, anh mà chết đi thì em sẽ là gia trưởng. Vậy thì lại đến lượt em sẽ thành tội nhân trong họ nhà ta…
Nỗi khổ sở của chàng mạnh đến nỗi trong giây lát có thể làm tan được hiệu lực của thuốc ngủ vừa uống. Chàng tiếp theo:
- Swanhild, em thề quyết với anh nhé: em phải thề rằng dù anh sống hay dù anh chết, dù anh ra điên ra dại hay anh vẫn khôn như thường, em cũng tìm, hết cách để khám phá sự bí mật kia nhé?
- Em xin hứa theo lời anh.
- Em sẽ mời thầy Lodge, hoặc hỏi nhà thần linh học, hoặc người đàn bà nhà Kynaston đã mời về.
- Em xin lấy danh dự hứa theo lời anh
- Balavasty và Crookes đã thất bại hồi ông chúng ta mất, nhưng từ hồi ấy đến nay khoa học đã tiến hơn.
Trí chàng minh mẫn được trong vài phút: chàng nhận biết cái trách nhiệm của một người sống hay chết có ảnh hưởng đến số mệnh một người đàn bà.
- Em mà không thề với anh, quyết để tâm đến cái việc kia ngay từ sáng sớm mai thì anh không thể nào yên lòng được. Em phải nhớ đấy: anh sống hay anh chết, anh bình thường hay điên dở cũng vậy, nghe không?
- Vâng, em xin thề sẽ theo ý anh.
Oliver ngả người xuống, thở một tiếng dài: chàng đã nhọc mệt hết sức. Nhưng chàng vẫn căn dặn:
- Nếu còn có em là gia trưởng, em sẽ phải lĩnh cái hương hỏa là lời nguyền tai hại của dòng họ nhà tạ Em sẽ nên mời Lodge về điều tra hay mời bà thầy… Em phải thề… lấy danh dự mà…
Tiếng chàng chìm vào trong những lời lầm rầm, sau cùng chàng ngủ mất.



Chú thích:

(1-) Reggie: Tên người anh cả đã chết.
(2-) thần trùng hút máu: Theo dị đoan bên Âu châu, người chết có thể hiện về ban đêm hút máu người sống.
(3-) Laudanum: (đọc là lô- đa-nôm) là thuốc ngủ, trong có chất nha – phiến tinh.

khungbotumlumtele
10-09-2005, 03:44 PM
Chương 4





TÌM MỘT BÀ THẦY

Những giờ tiếp theo đó thực là một giấc ác mộng ghê gớm đối với Swanhild. Trong khi ấy, nàng nhớ lại những giờ hấp hối của người anh cả trong gia đình nàng. Cũng những mùi thuốc ấy trong nhà, cũng một bầu không khí nặng nề đêm nay và cũng sự kinh khủng y như thế. Nàng nóng lòng mong trời chóng sáng.
Mọi người trong nhà không ai đi ngủ. Mấy ông thầy thuốc thì không tiếc công sức. Một cô khán hộ coi giấc ngủ của Oliver. Đối với Kate cũng không thiếu một phép cứu chữa nào.
Ngồi một mình trong phòng Holbein và nỗi kích thích ban đầu đã dẹp, Swanhild nhận thấy ngay cả tình thế bi đát bấy giờ. Oliver vẫn còn sống đã đành nhưng nếu chàng nhớ rõ chi tiết trong tấn thảm kịch thì không thể nào ngăn nổi chàng sẽ quyên sinh. Muốn tránh điều nhục nhã kia cho gia đình nàng. Swanhild phải làm thế nào thành công được trong cái việc ba mươi đời ông cha đều đã thất bại: là khám phá ra con quái vật truyền kiếp xem thuộc về giống nào.
Chẳng biết hình thù nó ra sao? Mà tại sao nó lại không ra hại nàng? Lúc nàng vào trong rừng thì nó nấp ở đâu? Nó lại ở đâu mà đến? Bao nhiêu phen xảy ra những thảm kịch ngày trước, người ra không tìm được qua một dấu vết nào.
Swanhild chỉ còn một phương độc nhứt. Nàng bèn rắp tâm theo và giở tìm trong tập sách hằng năm của nhà bưu điện.
Căn phòng mở ra, bác sĩ Newton bước vào. Nàng lẳng lặng dò ý tứ trên mặt ông tạ Ông nghiêng mình nói:
- Ông Albury cũng đồng ý với tôi sau khi xem bệnh: ông anh cô thoát khỏi nguy rồi. Mạch chạy như thường và giấc ngủ bình yên, các vết thương không mấy chốc sẽ lành. Tôi xin khen phục cô đã biết phòng độc và buộc các vết thương mau lẹ được đến thế, nếu để máu ra nhiều quá thì đến nguy cho tính mệnh chứ chẳng không.
- Thế còn bệnh tình Kate?
- Thực đáng buồn&#33; Cô ấy khó lòng qua khỏi được. Tôi muốn biết ý kiến một vị chuyên môn.
- Cái đó xin ông cứ tùy tiện. Về phần tinh thần thì anh tôi bây giờ thế nào?
- Tôi chưa biết thế nào nói ngay được. Phải đợi ông ấy thức dậy đã. Ngoài vết thương bị sưng do lúc ngã, xem ra ông cũng không đến nỗi nào.
- Ngã như thế có thành mất trí nhớ được không ạ?
- Tôi cũng không được rõ. Xương đầu không bị dập thế thì chỉ ngủ ngon một giấc, cái bệnh quên kia cũng mất đi.
- Nhưng nếu bệnh cứ dai dẳng thì liệu thành bất trị không ạ?
- Không thể nói quyết được điều gì bây giờ. Nếu đến nước ấy thì tôi sẽ nói với cô mời một bác sĩ chuyên trị về tâm thần.
Swanhild nói một giọng chua xót:
- Tôi sợ rằng mời cũng không ích gì.
Ông ôn tồn:
- Ồ, ồ&#33; Có lý nào&#33; Cô cứ yên tâm cô ạ, nào có gì là trầm trọng đâu&#33;
Người thiếu nữ chợt nhớ ra ông bác sĩ đến miền này mới được ít lâu thôi. (Chuyện nhà nàng hẳn ông ta không được rõ). Nàng hỏi nữa:
- Theo ý kiến ông, những vết thương ông buộc kia là do sự gì gây nên?
- Điều này khiến tôi làm lạ. Những vết tích không được rõ. Một con vật đói nào xổng ra cũng không chừng. Tôi đã báo tin cho viên tuần tra cảnh liệu. Tôi lại nghe người quản gia kể lại với tôi rằng anh em nhà Ades đã có lần đe dọa ông anh cộ Cả ba tên ấy đều có những con chó hung dữ, có lẽ những con chó kia giữ việc sủa cô con gái có mặt đấy, là người làm chứng đáng lo ngại, trong lúc chúng đánh anh cộ Dẫu sao, tôi mong rằng lúc ngả dậy, bệnh nhân của tôi sẽ buồn cười cho những câu nói điên rồ đã thốt ra đêm naỵ Tôi thử hỏi cô, cái chuyện con quái vật kia có nghĩa lý gì không nào? Ông Oliver chẳng qua mê sảng đấy.
Swanhild lạnh lùng đáp:
- Những câu ấy không phải chuyện điên rồ chút nào hết, vì anh tôi mà nhớ được những điều trông thấy trong rừng thì anh tôi đến tự tử. (Nàng đưa tay cho ông Newton trông thấy những búc chân dung của tổ phụ và nói rõ ý mình). Từ trước đến nay, những người kia đều như thế này cả đấy, ông ạ.
Ông tỏ vẻ mặt không tin và nhạo báng:
- Những chuyện vô lý ấy có những gì là sự thực nào?
- Tổ phụ tôi chết y như thế năm 1890. Báo :”Times” ra ngày 18 tháng 10 năm ấy tường thuật cả vụ điều tra về việc ấy.
Ông nhìn người thiếu nữ, vẻ ngẫm nghĩ:
- Hình như tôi cũng có đọc bài ấy rồi. Tôi, tôi cho là những câu chuyện truyền khẩu của bọn vú nuôi, con ở. Lúc này cô vẫn còn bị hốt hoảng vì những sự kích động vừa qua, nhưng đến sáng mai là cô lại tỉnh trí được như trước ngay, rồi nhà chuyên trách chắc là sẽ tìm ra được con vật hung ác. Bây giờ tôi thử đi xem hai người bệnh của tôi xem nào&#33;
Swanhild lại cầm cuốn chỉ nam bưu điện và biên ra một bản những tên và địa chỉ của nhiều người. Cửa bỗng lại mở ra. Người thiếu nữ reo lên:
- Kìa, anh Gođard&#33;
Người vừa vào khẽ đáp:
- Swanhild&#33;
Và giọng nói đầy ý trách móc, thương hại và kinh sợ.
Gođard hơn Swanhild một vài tuổi, người nhỏ nhắn, mảnh khảnh. Trên khuôn mặt xương xương, dưới mái tóc đen và rậm, tươi sáng đôi con mắt nâu lóng lánh và cái miệng của người sắc sảo hữu duyên. Chàng ăn mặc sơ sài một bộ quần áo hàng mỏng nhẹ không được thẳng nếp, đầu đội một cái mũ cáp lưỡi trai mềm và dẹt và xách lủng lẳng một ngọn đèn xe lớn trong bàn tay trái đeo găng. Gođard bị thương nặng hồi chiến tranh, phải mang một cánh tay gỗ. Thấy Swanhild ngạc nhiên nhìn chiếc đèn, chàng ngiêm giọng nói:
- Phải, chính đèn của cô đấy.
Nàng nghẹn tiếng hỏi:
- Ồ&#33; Anh Gođard, anh cũng vào rừng đấy sao?
Chàng làu nhàu:
- Giá cô rủ tôi cùng vào mới phải. Đêm qua tôi làm việc khuya. Lúc đi nằm, thấy có lửa đèn thấp thoáng trong rừng, tôi mới thử vào đó xem cho biết, thì, trời ơi&#33; Tôi trông thấy các con chó…
Chàng đặt chiếc đèn xuống và nắm chặt bàn tay lạnh lại, nói tiếp:
- Tôi cứ nghĩ đến cái việc cô vào rừng có một mình, (giọng chàng vẫn trách móc) lại vào sau những việc xảy ra này&#33;… Ồ, lão Walton đã cho tôi biết hết đầu đuôi rồi… tôi thực không thể nào bực mình hơn được nữa.
Chàng vo tròn mãi cái mũ trong tay, Swanhild cảm động nhắc câu nói lúc nãy:
- Thế ra anh có vào trong rừng&#33;…
- Thì có gì đáng kể? Trong rừng không còn nguy hiểm nữa vì trời lúc ấy đã đang mưa.
Trước thấy ông bác sĩ tỏ thái độ không tin lời mình, nay được nghe Gođard nhận theo những giả thuyết về con quái vật, Swanhild cũng thấy được dễ chịu trong lòng. Nàng đem cái việc mạo hiểm đêm qua ra vắn tắt thuật lại. Gođard hỏi:
- Thế là Oliver thoát nạn và tâm trí vẫn yên lành rồi. Thì cô còn lo sợ gì bây giờ?
Nàng đáp:
- Anh ấy mà nhớ lại được thì tất sẽ theo gương ông tôi. Chốc nữa anh ấy ngủ dậy, bà vợ lão Walton với tôi sẽ coi chừng anh ấy có ý tự sát chăng, như thế trong vài ba giờ còn được, nhưng bất thần anh ấy nhớ lại lúc nào không biết,thì liệu có thể suốt đời canh giữ anh ấy được sao?
Tiếng nàng sau cùng thành tiếng nức nở. Gođard cũng lấy làm khó nghĩ:
- Vâng, tôi hiểu rồi. Giờ thì biết làm thế nào? Swanhild:
- Tôi định cố tìm cho biết tính cách hình thể con quái vật xem. Việc ấy mà thành và nếu tôi có thể cứ dễ dàng phân giải các điều cho Oliver nghe, thì sự kích động kia sẽ giảm bớt đi được.
- Thế cô định theo cách nào bây giờ?
Nàng trỏ vào cuốn chỉ nam.
- Lúc anh vào đây thì tôi đang tìm hội khảo cứu S.P.R và địa chỉ cô Bartendale, nhưng tên cô không thấy in trong sách.
- Cô Bartendale, ư? Cái tên này làm tôi lại mang máng nhớ ra một việc…
- Bà Grace Kynaston có lần đã nói chuyện với tôi về cô tạ Chả hồi năm ngoái cô ta có tìm giúp bà ấy cái nguyên nhân những việc hiện hồn kỳ dị xảy ra trong nhà bà. Nhưng hiện nay bà Grace lại đi ngoại quốc mất rồi&#33; Mà tôi thì chỉ biết được có mỗi một điều là cô Bartendale ở London thôi&#33; Chắc hẳn cô ta ngụ Ở một nhà họ hàng nào đấy chớ chẳng không. Tôi mới tìm xem có bao nhiêu địa chỉ nhà Bartendale, đem kê ra thành một bản: có mười một nơi tất cả. Hễ lúc nào xem có thể rời Oliver ra được tôi sẽ đi London hỏi thăm.
Gođard khẽ lắc đầu:
- Như thế thì khác nào tìm chiếc kim trong đống cỏ. (#1)Bartendale… Bartendale… hừ&#33;
Chàng nhăn trán nghĩ ngợi, miệng thì cứ lẩm nhẩm nhắc lại tiếng Bartendale hoài.
Swanhild đi mở cửa sổ hướng Bắc ra. Gió bên ngoài ùa vào ướt nặng những hạt mưa. Hai người đứng ngắm cảnh đồng quê mịt mùng lan xa tới cái hình thằng người Dannow. Một màu sáng hỗn mờ tuôn xuống từ trên mây. Khu rừng xa hiện thành một dải đen xám.
Bỗng nàng không thể im lặng được nữa.
- Cái tình cảnh thực ghê gớm, tai ác không biết ngần nào&#33; Oliver thoát chết, mà nếu ta không thể tìm được cách khám phá được cái bí mật nghìn năm kia thì anh ấy đến hóa điên mất, rồi anh ấy lại…
Nàng không nói được dứt, nghẹn ngào một lát rồi lai lớn tiếng kêu lên:
- Tôi thực là đứa hèn nhát&#33; Anh Gođard ạ. Tôi hèn nhát một cách khả ố&#33; Nhưng anh nghĩ coi: đời tôi bây giờ chỉ còn lại có một mình Oliver nữa là hết&#33; Hồi anh ấy với anh Reggie đi đánh trận trở về, các thầy thuốc bảo là anh ấy không thể sống được. Tôi đã cố công cùng sức cứu được anh ấy sống. Mà thế này thà cứ để yên cho anh ấy chết có lẽ lại hơn.
Gođard khuyên:
- Swan, đừng nên nghĩ thế&#33; Tại Swan nhọc mệt quá mới ngã lòng đấy. Độ vài ba giờ nữa Swan lại có đủ nghị lực chiến đấu để che chở cho Oliver.
- Ta làm thế nào mà thắng nổi được kẻ thù kỳ quái, kẻ thù vô hình kia được&#33;
Chàng âu yếm dỗ:
- Không, em cứ vững tâm. Mới hai năm trước đây, tôi còn trong một đường hố ngoài trận, lấy xẻng xúc đào trong một lớp bùn kinh tởm: cái chết treo trên đầu. Không thể nào biết nó sẽ hiện đến theo hình thể nào để lôi chúng tôi đi. Chỉ có một cách duy nhất để tránh khỏi nỗi lo sợ là đừng nghĩ ngợi lắm. Bây giờ cũng thế đấy&#33; Bây giờ ta cũng cứ thế; ta chỉ nghĩ đến việc tìm ra cô nữ pháp sư kia là hơn.
Chàng nhìn Swanhild bằng đôi mắt hóm hỉnh, một vẻ trách móc khôi hài:
- Mà này, lúc nãy Swan bảo: đời Swan chỉ còn có Oliver nữa thôi. Câu nói ấy không đúng mà cũng không được tử tế cho lắm. Tôi cứ tưởng là Swan vẫn hiểu bụng tôi.
Từng trận gió quay cuồng, khác nào tiếng nói lớn lao của không gian vô cùng tận, bao bọc cả lấy căn phòng kia, giây phút buông thả bình tĩnh này thực dịu ngọt cho lòng người thiếu nữ. Nàng tưởng chừng như khắp vũ trụ đều tiêu diệt thành hư ảo chỉ còn lại một tình thương mến chung của hai người. Nàng dịu dàng bảo chàng:
- Anh Gođard, lòng anh đối với Oliver của chúng ta thân thiết biết chừng nào&#33;
Chàng ôm lấy nàng trong tay và đặt môi hôn nàng. Sau lúc người anh cả nàng là Reggie tắt nghỉ, anh Oliver nàng cũng tỏ với nàng cử chỉ âu yếm y như thế. Swanhild nhớ đến lại rùng mình kinh sợ, nhưng nàng cũng thấy được phấn khởi tâm hồn. Nàng vui vẻ nói như gần quên hết lo âu:
- Nhờ trời, Oliver vẫn còn đấy.
- Thì chính thế, mà giữ được anh ta mãi mãi là do ở chúng mình. Ta phải làm thế nào tìm cách giữ lấy mọi điều lợi để có cơ thành công.

Chú thích:

(1-) tìm chiếc kim trong đống cỏ: Cũng như ta nói: “Đáy bể mò kim”.

khungbotumlumtele
10-09-2005, 03:45 PM
SUEZ WEST OF SUEZ


Sau đó một giờ rưỡi, Swanhild bước xuống dưới đại sảnh.
Trời đã gần về sáng, lạnh lẽo càng thêm giá ngắt và sự im lặng càng sâu xạ Những cây leo khô cóng bao phủ khắp tường khiến cho tòa nhà lớn có một vẻ hoang tịch của ngày tận cùng thế giới.
Một người nữ khán hộ đi qua đường hành lang, quyện theo mình một mùi nồng thuốc.
Swanhild không thể yên lòng được. Nàng trở vào căn phòng lớn Holbein là nơi ấm áp vì có đèn sáng và lửa cháy trong lò. Con Alex và lũ chó khác đang tranh nhau ăn với mấy con mèo. Ở một bàn đã sắp sẵn thức ăn điểm tâm, Gođard với bà lão Walton vẻ mặt đăm đăm đang thì thầm nói chuyện. Chàng ngẩng lên bảo nàng:
- Swanhild ạ, tôi đã bảo đánh chiếc xe Mercedes rồi. Tôi tưởng độ hai giờ ngồi xe sẽ có lợi cho tâmthần cô lúc này; bà Walton cũng nghĩ như thế đấy.
Swanhild hỏi:
- Mà ngay bây giờ sao?
Bà Walton gật đầu:
- Vâng, ngay bây giờ. Trong lúc cô vắng mặt đã có tôi coi sóc mọi việc ở nhà.
Gođard nói cho nàng biết trước:
- Ta đi tìm cho được cô Bartendalẹ Tôi mong sẽ tìm thấy cô ấy rất chóng.
Người thiếu nữ ngạc nhiên hỏi:
- Ồ&#33; Anh Gođard, anh làm thế nào mà?…
- Đừng hỏi gì bây giờ vội. Swan hãy ăn điểm tâm đi đã.
- Tôi không thấy đói.
- Không đói? Nếu vậy thì Swan phải uống xong chén cà phê kia đã rồi ta mới lên đường. Xe đã đánh ra sẵn sàng là ta đi liền, đi về Suez West of Suez.
Swanhild kinh ngạc nhìn chàng. Gođard cắt nghĩa:
Suez West of Suez là cái tên hiệu thân mật tôi đặt cho bờ bể Brighton. Tôi nghe thấy nói miss Bartendale đến nghỉ ở đó được hai hôm rồi, đến cùng với một bọn người sang trọng ưa tắm biển.
- Anh biết địa chỉ cô ấy chứ?
- Không, nhưng kiếm một người có tiếng đến chơi Brighton vẫn dễ hơn kiếm một người ở London trong cuốn chỉ nam của sở bưu điện.
Swanhild vẫn còn lưỡng lự:
- Nhưng ngộ Oliver thức dậy sau lúc tôi đi khỏi thì sao?
- Thì đã có bà Walton ở nhà.
Bà Walton cũng nói vào:
- Uống liều thuốc lúc nãy thì cậu ấy ngủ được ít ra năm sáu giờ. Lúc nào thức dậy tôi sẽ liệu chừng cho cậu dùng bữa hoặc uống thuốc an thần. Cô đi xa bây giờ rất tốt. Ở nhà mà tâm trí rối loạn như cô bây giờ cũng chẳng có ích gì cho cậu ấy đâu.
Người thiếu nữ thuận ngay, không phải để nài thêm nữa.
Quả nhiên lúc ngồi vào chỗ lái xe, những nỗi lo ngại bối rối trong lòng nhẹ bớt đi nhiều. Khí trời thông thoáng bên ngoài, ngày lại gần về sáng, cùng với cái ý tưởng rằng đã tìm được cách bận rộn về việc cứu vớt Oliver, bằng ấy sự khiến nàng vững lòng lên. Khi xe đã qua cầu, nàng hỏi Gođard:
- Anh định làm cách nào để tìm thấy cô ấy?
- Ta đi hỏi thăm những người gác cổng ban đêm ở các khách sạn. Cách ấy mà không ăn thua, ta sẽ tìm đến một anh bán báo mở hàng sớm mà có biên tên những du khách đến Brighton hôm thứ bảy.
Mưa đã tạnh, sao điểm lóng lánh tỏ rõ dưới bầu trời trong xanh. Khi xe qua Beeding, những ngôi còn lại sau cùng lần lần tắt. Đến Sorcham rồi mà bóng đêm vẫn còn đen tối. Hai người cùng nói ít, vì Swanhild chăm chú lái xe. Sau cùng, xe vượt khỏi miền đồi Porslade thì cái hình Brighton mờ xám hiện ra trước mặt hai người dưới màu hồng sơ khai rung động của một cảnh hửng sáng mùa đông.
Con đường sao mà thấy vắng vẻ lạ lùng&#33; Ánh đèn pha càng làm rõ rệt thêm vẻ hiu quạnh tiêu điều của cảnh vật: bầu trời với mặt đất, nhà cửa cùng những bờ cát xa xa, tất cả hình như huyền ảo. Chỉ có tiếng máy kêu rền với tiếng gió than dài thoảng đưa tiếng sóng ồn ào, làm tan vỡ bề tĩnh mịch.
Swanhild, mà lòng áy náy khiến giọng nói nhỏ đi và có chiều mỏi mệt, hỏi Gođard:
- Nếu không tìm thấy miss Bartendale ở Brighton thì làm thế nào?
Chàng chỉ đáp.
- Thì đi tìm chỗ khác. Ta không cần gì phải băn khoăn lắm. Cô cứ cho xe rẽ vào phố đầu bên trái, rồi ta bắt đầu hỏi thăm.
Những lúc chàng xuống hỏi thăm bọn gác đêm nàng vẫn ngồi lại trong xe. Miss Bartendale không trọ trong khách sạn đâu, mà đến khách sạn thứ hai cũng vậy. Đi suốt một dãy phố mà chẳng được ích gì, chốc chốc lại ngừng xe, khi để hỏi thăm, khi tìm kiếm một hàng bán báo. Đến lúc mặt trời hửng đông thì hai người thông thuộc được hết các chừng độ thức dậy dần dần của một khách sạn. Sau cùng mới có một người trong bọn người làm đưa một bản kê tên du khách cho Gođard coi.
Chàng reo lên:
- Đây rồi&#33; Swan trông đây này: Hesse House, Hesse Square: thứ năm, lady(#1) Adams, miss L. Bartendale… đi qua Ship Street ta hãy đỗ xuống đã.
Swanhild ngoan ngoãn vừa cho xe quanh lại vừa hỏi:
- Xuống đấy để làm gì?
- Để gọi điện thoại. Đến nhà cô ấy sớm quá thế này không được. Ta phải có lễ độ với nạn nhân của ta(#2) &#33;
Vào cái giờ sớm sủa ấy, thành phố buồn bã và có vẻ còn ngủ yên. Hai bàn tay Swanhild xâm xấp ướt, mặt tái mét như người chết rồi, vì nàng chỉ cách có vài ba phút hoặc nỗi mừng hoặc sự tuyệt vọng.
Trong máy nói, giọng rề rà của một người đầy tớ gái trả lời nàng:
- Miss Bartendale đang ở trong phòng ngủ. Cô ấy sắp sửa đi chuyến xe lửa thứ nhất về London. Tên là gì? Xin cho biết. Vâng, được, miss Hammond, xin cứ đợi đấy nhé&#33;
Đợi một lát, nàng bỗng lại nghe thấy tiếng đầu dây bên kia:
- Allô&#33; Miss Bartendale đây. Con quái vật hẳn lại hiện về phải không, miss Hammond?
Swanhild kinh ngạc hết sức:
- Vâng, phải rồi, nhưng sao mà…?
- Sao mà tôi biết, phải không? Này cô em ạ, khi một cô dòng dõi nhà Hammond ở tận cư thất miền Dannow mà gọi đến một người đàn bà được tiếng là có tài về linh hồn học, thì câu chuyện đoán cũng chẳng khó khăn gì&#33;
Giọng cô nhẹ và nâng cao, nhưng rành rẽ từng tiếng cô hỏi:
- Nó hiện về bao giờ thế?
- Mới được mấy giờ thôi.
Swanhild liền vắn tắt thuật lại những việc xảy ra đêm vừa rồi. Người kia lại hỏi:
- Nhưng tôi làm sao được bây giờ.
- Năm ngoái cô đã có lần giúp cho lady Grace Kynaston, vì thế tôi chắc rằng…
- Cái bí mật của nhà Kynaston không phải là cái bí mật lưu truyền nghìn năm. Được, tôi cũng cố hết sức xem sao, nhưng cô đừng tin ở tôi nhiều quá đấy&#33; Hiện giờ cô đang ở đâu?
- Ở nhà điện báo Ship Street. Tôi đi xe hơi đến cùng với anh God… à, cùng với ông Covert.
- Liệu tôi có thể xem xét chỗ xảy ra trước các nhà chuyên trách được không?
- Được ạ, mặt trời chưa lên cao thì chưa ai làm gì vội, cả đến viên chánh cảnh sát ở Dannow cũng vậy. Mà ta thì chỉ một giờ nữa đã đến đấy được rồi.
- Nếu vậy thì cô lại đây, nhưng cứ thong thả thôi, vì tôi chưa kịp sửa soạn gì cả.
Nàng bảo Gođard:
- Cô ấy nhận lời và xem ra người nhã nhặn lắm.
Rồi nàng không nói gì thêm.
Hess Suare ở về mé tây nam bờ biển Brighton, thuộc khu của hạng quý phái trong thành phố, một nơi ở dễ chịu nhất hồi chưa có những gia đình đua nhau lập nên. Bình yên và tĩnh mịch trong những ngày tưng bừng nhất của mùa hè, khu ấy trong buổi sáng mùa đông kia trông thực quạnh vắng. Chiếc xe hai người lăn bánh trên những đường phố buồn tẻ dưới những hàng cây âm thầm. Tòa nhà Hess Hourse dựng gần mấp mé trên thành đá bờ biển.
Gođard khen:
- Thực là nơi biệt thự mộng tưởng đối với một người như miss Bartendale.
Swanhild trên xe vừa nhảy xuống thì bỗng cửa tòa nhà mở. Một người đàn bà nhỏ nhắn bước ra, dẫn theo một con chó rất lớn, nửa thuộc giống cho hiếm, nửa là giống chó săn.
Giọng nói nghe trong máy lúc nãy, cất lên hỏi, trong lúc bàn tay người ấy đưa ra:
- Miss Hammond đấy phải không?
Người đâu mà có khuôn mặt dễ thương đến thế&#33; Những món tóc uốn kia cuộn dưới mép chiếc mũ mềm giữ gió, có một màu vàng lụa không mấy khi còn được sau tuổi trẻ thợ Nét mặt thanh tú, nước da sữa mịn, hai má phơn phớt điểm hồng. Duy chỉ có đôi mày đậm nâu, đôi lưỡng quyền đã lộ và cái mũi hơi to là bớt lại cái vẻ non dại thơ ngây thấy trên toàn diện mạo. Chiếc cằm tròn nhỏ ấn xuống một đường hình lõm phía dưới môi. Thường thường miss Bartendale giữ đôi mí mắt buông thấp, nên gương mắt nàng trông đen lay láy sau cái riềm lông mi lụa vàng. Thân hình nàng mảnh dẻ, đứng thẳng thắn trong một cái áo măng-tô rộng bằng len.
Swanhild nhỏ tiếng hỏi trong vẻ ngạc nhiên:
- Miss Bartendale, người đàn bà tìm mạch suối đây sao?
Người ấy mỉm cười chữa lại:
- Không, nhà nữ thần linh học mới phải. Trông tôi bề ngoài thế này nhưng tôi nhiều tuổi hơn vẻ người tôi đấy&#33; (Cô nói thêm câu này để đáp lại những ý nghĩ thầm của Swanhild). Mà tôi không cho những công việc của tôi làm có vẻ nên thơ như bọn người Mỹ đâu.
Cô nhẹ cúi đầu đưa mắt lên nhìn Swanhild một cách rất đáng yêu, khiến cho khi gặp đôi mắt xanh sáng kia, trong vắt như thủy tinh hay như ngọc kim cương và như thấu suốt lòng nàng, nàng lấy làm sung sướng rằng không còn điều chi phải giấu giếm nữa.
Miss Bartendale ngoảnh lại nhìn chàng trai:
- Ông này là ông Gođard đây hẳn rồi. Nhờ có ông mà hôm nay tôi được cái may mắn điều tra về việc này đấy. Được&#33; Bây giờ đã quen biết nhau rồi thì ông lên ngồi cầm lái, còn miss Hammond thì sẽ kể cho tôi biết tường tận những điều cần biết. Tôi xem ý thì con chó của tôi không ác cảm với hai người. Cô đỡ lấy chiếc ví da người hầu gái đưa ra và bảo: Được&#33; Ổn thỏa lắm rồi. Chị nhớ gọi điện cho bà cô tôi dùm nhé&#33;
Cô ngồi yên ấm bên cạnh Swanhild, để con chó nằm dưới chân. Chiếc xe quay về Dannow trở lại con đường đã đi trước.



Chú thích:

(1-) Lady: Tiếng gọi những đàn bà quí phái bên Anh.
(2-) Ta phải có lễ độ với nạn nhân của ta: Một tiếng nói đùa để chỉ miss Bartendale

khungbotumlumtele
10-09-2005, 03:46 PM
Chương 6





NHỮNG CỤ TỔ THÀNH TRÙNG


Miss Bartendale ngồi gọn về một góc nệm xe và mỉm cười với cô thiếu nữ ngồi cạnh. Cô bảo Swanhild:
- Hình như cô lấy làm lạ rằng sao tôi nhận lời đi với cô nhanh đến thế nhỉ?
Swanhlid đáp:
- Là vì tôi chỉ lo sớm quá, cô sẽ từ chối không muốn bận mình.
- Tôi như thế quen đi rồi. Lúc cô gọi điện thoại cho tôi đã ăn mặc chỉnh tề và gần điểm tâm xong; ăn bữa sáng dưới đèn&#33; Như thế cũng ngược đừi y như uống sâm banh giữa ban ngày. Bây giờ cô kể lại lần nữa cho tôi nghe những việc xảy ra hôm vừa rồi đi&#33;
Swanhild liền thuật cả lại một lượt nữa. Miss Bartendale hỏi:
- Trong câu chuyện đó thì có những gì là khác thường?
Swanhild thưa:
- Tôi không biết thế nào mà nói được.
Miss Bartendale chậm rãi từng tiếng, giọng nhẹ nâng cao nghe ngọt ngào rất êm tai:
- Tôi chỉ thấy trong cái việc kia có một chỗ không được tự nhiên lắm, có lẽ vì ông anh cô đã quên nói cho ta biết rằng… Nhưng để xem ông ấy nói thế nào đã. Bây giờ ta hãy xem xét về con quái vật. Các sách chỉ nam về những nhà có ma quái, sách nào cũng nói đến con quái vật ấy, đấy, tôi tóm tắt những điều tôi biết cho cô nghe, những điều có liên quan đến con quái vật tôi đọc trong các sách khảo về chuyện yêu mạ Họ hàng nhà cô, từ bao nhiêu thế kỷ nay, vẫn bị một giống ma quỷ quấy nhiễu. Người ta gọi nó là con quái vật bất tử. Trong dòng họ Hammond có nhiều người chết một cách bí mật: người ta đều bảo là con quái vật kia. Có phải đúng thế không?… Thế, con quái vật ấy ở yên không sinh chuyện gì được bao nhiêu lâu rồi?
- Đã từ năm 1890 là năm nó giết hại ông tôi cùng hai người nữa.
- Đầu đuôi việc ấy thế nào?
Lưỡng lự một chút rồi Swanhild liền kể:
- Hôm ấy , ông tôi có hẹn hò gặp nhau trong rừng với một bà ở Mansby Placẹ Cả hai bên đều có vợ có chồng rồi. Giữa chừng họ bị một người lính kiểm lâm bắt gặp… Cả người lính kiểm lâm cùng bà kia bị chết, bị tàn sát một cách kinh khủng y như cô Kate đêm vừa rồi, nghĩa là một lối hung ác ghê gớm và chỉ có con quái vật vẫn dùng xưa naỵ Hai con chó lớn của ông tôi với con chó của người lính gác cùng bị xé nát nhưng không bị ăn thịt. Thây người và xác chó, bọn tuần cảnh tìm thấy ở gần Gò Sét (Thunder Barrow) ở bên kia rừng, còn ông tôi họ thấy đang đi lang thang, mình đầy những vết thương trông rất ghê sợ. Trong có một đêm trời mà tóc ông tôi hóa bạc. Ông cụ nhất định không chịu kể lại những việc đã xảy ra và hôm sau thì tự tử chết. Vì thế mà tôi lấy làm lo cho anh tôi.
Luna Bartendale nắm lấy tay nàng tỏ vẻ thân mến:
- Nếu vậy được&#33; Cô em cứ yên lòng. Nếu ông anh cô định quyên sinh thì tôi sẽ tìm cách để biết quyên sinh vì cớ gì. Dannow là một lâu đài cổ nhất nước Anh, phải không?
- Vâng. Căn đại sảnh bây giờ là một dinh thất cũ.
- Chi phái nhà cô tậu được lâu đài Dannow từ hồi nào?
- Chính tổ tiên nhà tôi xây dựng nên
- Cô còn những cảo thư cũ không?
- Nhà tôi hiện giữ một tập cảo có ấn tín của vua Canute chứng nhận rằng Réginald, con trai Hammond là chủ nhân tòa cổ thất trước.
- Tập gia phả lập năm 1650, có biên chép các hồi nó hiện lên giáng họa, và những tên người bị hại đều ghi chú bằng mực đỏ. Một tập gia phả nữa thuật lại những việc xảy ra từ năm 1650 đến năm 1890.
- Cô còn biết những di tích chứng chỉ nào nữa không?
- Còn. Trong nhà thờ thuộc lâu đài Dannow có một phiến đá trên mặt tạc nổi hình một người chiến sĩ quân Thập tự (#1) và dưới chân người ấy, một hình thù to lớn có ý tả con quái vật. Thứ bia ấy dựng lên để kỷ niệm công đức sir Oliver Hammond(#2) , người đã đương đầu với con quái vật mà không chết, xin theo quân Thập tự lần chinh phạt thứ nhất để khỏi phải nhớ lại và bỏ mình trong hồi này. Nhà chúng tôi lại có một bức tranh đề tặng cho Godfrey Hammond năm 1387. Bức tranh vẽ một con vật rất dị kỳ. Ông Godfrey Hammond này đã có lần trông thấy con quái vật và từ đó cho đến hết đời chỉ lấy sự cầu nguyện ăn năn làm công việc, sống như một nhà tu hành ẩn dật, hãm mình trong một phòng kín nhỏ hẹp xây áp với nhà thờ. Người nào trong họ Hammond đã có gặp con quái vật cũng đều tự sát hết, trừ ra chỉ có hai ông kia là không, nhưng vào đội quân thập tự hay là làm nhà ẩn tu cũng là hai cách tự tử rồi.
- Con vật tạc ở phiến đá với con vật trong bức họa trông hình thù thế nào?
- Cũng khó nói lắm. Con trên phiến đá thì chẳng ra hình thù gì hết, mà con họa trên bức tranh thì bị cạo xóa nhem nhuốc hình như để khỏi nhận được.
- Ngoài ra, còn ai là những người khác đã trông thấy nó, hay có ai mô tả hình dạng nó không?
- Không. Họ không bị giết chết thì cũng vì sợ hãi quá mà chết mất.
- Tuy vậy, cô con gái kia, cô Kate Stringer ấy mà, cô ấy cũng vẫn còn sống đấy thôi?
- Chưa chắc. Mấy ông bác sĩ đều bảo cô ấy không thể cứu chữa được.
- Tôi nghe như một câu hát cổ có nói đến con quái vật, phải không?
- Vâng. Câu hát ấy thế này:
Linh hồn quái vật Dannow
Kiếp nổi kiếp cùng dòng giống
Con quái mà còn cứ sống
Dòng Hammond thịnh lâu dài
Con quái mà tắt được hơi
Dòng họ Hammond tuyệt diệt
Cầu cho yên lành mà chết
Kẻ gặp thấy quái Dannow
Gặp mà vẫn chẳng làm sao
Sống cực bằng muôn cái chết.
Luna lẩm nhẩm nói:
- Lạ thực&#33; “Con quái vật mà còn cứ sống chừng nào thì họ Hammond còn thịnh vượng mãi”. Thành thử cái họa cũng là cái phúc rồi chứ sao? (Ngừng một lát, cô lại nói). Tôi đã đọc nhiều bài khác nhau nói đến những lúc nó hiện lên. Trong số đó có một bài nói quả quyết rằng trong tòa cổ thất Dannow có một phòng bí mật, phòng ấy ở đâu và có những gì, người nhà giữ rất kín, chỉ đợi khi nào người con kế tự đủ hai mươi lăm tuổi mới cho biết. Bài ấy lại bảo rằng cái việc giữ kín kia ghê gớm quá chừng, đến nỗi không có ai dám tiết lộ.
Swanhild muốn ngắt lời, nhưng Luna Bartendale đưa tay ngăn lại và tiếp:
- Theo lời tục truyền trong dân gian thì người ta vẫn tin rằng ông thủy tổ dòng họ Hammond đã kết ước với ma quỷ để cho con cháu về sau kế nghiệp làm chủ nhân Dannow cho đến ngày Phán Xét sau cùng (#3) mà mình thì được sống khá lâu, đủ thời giờ để thấy thành hiệu điều giao ước đó. Chính ông cụ tổ này đã ở trong cái phòng bí mật và đã nhiều lần đúng tuần đúng tiết, đem hy sinh một mạng người để cho tuổi mình thọ lâu. Tóm lại, nghĩa là theo ý tưởng trên kia thì chính cụ thủy tổ nhà là con quái vật đấy.
Swanhild cũng nhận ra lời bàn ấy là đúng. Nàng nói:
- Vâng, trong dân gian họ quả có tin là như thế thực. Họ cho rằng ông thủy tổ ấy vẫn hiện thành một hình thể ghê sợ gớm ghiếc đến nỗi ai trông thấy cũng phải quyên sinh. Nhưng có điều này thì thực chắc chắn: là không có phòng bí mật nào đâu. Tôi thường vẫn đến cái phòng người ta tưởng đâu là bí mật đã nhiều lần rồi.
Miss Bartendale lại nói:
- Người ta lại kể chuyện rằng, đã có từng hồi thỉnh thoảng nhà này lại sinh ra một thú vật nửa người nửa thú và vật ấy giấu kín trong lâu đài. Cứ mỗi lần trông thấy cái vật quái dị ấy là lại có những thảm kịch ghê gớm xảy ra. Cố nhiên đó là những chuyện vừa rồi người ta bịa đặt ra rồi lan truyền đi khắp nơi để làm thỏa cái lòng thèm khát chuyện kỳ quái của quần chúng; tuy vậy ta cũng phải xét đến. Cô còn biết những điều gì khác về việc này nữa không?
- Còn. (Swanhild nói to lên). Mà lại là những lời độc địa hơn cả: người ta đồn rằng nhà Hammond có những trùng hút máu mà tự những người ấy không ngờ rằng khi một người trong họ này chết non thì cái hồn quỷ – quỷ nhập trong người ấy – thoát ra mà trở về Dannow. Mà… họ lại bảo rằng…
Sự tức giận đưa lên tận cổ, nàng ngừng lại nghẹn ngào, Luna vội hỏi:
- Họ bảo sao?
- Họ bảo rằng chính là anh Reggie, anh cả tôi&#33; Anh mới chết được ba tháng nay&#33;
Nàng nói rồi ôm mặt khóc. Luna khẽ kêu lên:
- Ba tháng&#33; Tức là cái kỳ hạn…
- Vâng. Mà người trong vùng đó ai cũng tin chắc như thế. Sau khi ông tôi chết, họ đã bảo rằng chính người cô tôi, tức là người con gái út của ông tôi bị nạn đi săn chết về mùa thu trước năm ấy… họ bảo rằng chính cô tôi đã giết chết người đàn bà với người lính gác ở trong rừng. Việc quyên sinh của ông tôi cũng chỉ khiến cho họ càng tin chắc chắn điều đó.
Luna Bartendale âu yếm nhìn Swanhild. Trong đôi mắt đẹp một vẻ thần tiên của nàng, trước ánh sáng dịu của buổi mai, điểm đồng tử mở rộng ra như ở đôi mắt mèo trong bóng tối. Nàng dịu dàng nói:
- Tôi đã không còn lạ gì những điều người thôn quê họ vẫn tưởng tượng. Ở nhà quê tôi bây giờ vẫn còn cái lệ cũ: bảy năm một lần người ta đem quẳng xuống sông một con vật còn sống để cúng một con ma tên là Peg ÓNell… Cố nhiên, về chuyện nhà cô cái thói dị đoan kia cũng làm cho ông anh cô phiền muộn lắm đấy nhỉ?
Swanhild sốt sắng đáp:
- Anh tôi lúc nào cũng chỉ quan tâm về những chuyện này. Cha chúng tôi chết ở ngoài trận, mẹ chúng tôi chẳng mấy chốc cũng lại chết theo. Hai anh em tôi thành trơ trọi ở đời, họ hàng chẳng còn ai nữa… Mà, tôi cũng không hiểu tại sao lại đem chuyện nhà tôi ra làm bận tai cô thế này?
- Đó là vì tôi được lòng tin cậy của cô đấy. (Luna đổi chuyện). Chẳng hay ngoài khu rừng cây ra thì con quái vật kia có bao giờ hiển hiện ở nơi khác không?
- Có ạ&#33; Ngày xưa Oliver Hammond là cụ thân sinh ra ông cụ Godfrey Hammond ẩn tu, với con gái đã bị con quái vật giết chết trong cuộc đi viếng nhà thờ ở Rocamadour. Hồi ấy Godfrey Hammond cùng đi với cha và em gái, trông thấy việc ấy mà không chết, rồi về sau mới hãm mình trong đời tu hành.
- Tại sao con quái vật chỉ hiện ra những đêm mùa rét nhỉ?
Swanhild đáp:
- Có một bài hát khác nói đến điều đó. Bài hát thế này:
Ở đâu thông mọc um,
Đêm sao, lạnh và rét.
Gia trưởng nhà Hammond,
Sẽ gặp phải lúc chết.
Luna lại nói:
- Xét cho cùng thì tai họa chỉ nhè giáng xuống những người làm chủ nhân của khu trang trại kia thôi. Không bao giờ thấy con quái vật ở ngay trong lâu đài chứ?
- Có đấy ạ, có một lần. Người gia trưởng hồi ấy là sir Magnus Pháp sư, cháu cụ Hammond ẩn tu.
- Có phải sir Magnus chính là nhân vật trong những chuyện dị đoan truyền lại đấy không?
- Vâng, chính phải đấy. Sir Magnus thường làm những phép phù thủy trong cái phòng bí mật – phòng này có một cửa sổ ngay dưới bóng thông. Tôi nghe nói lại rằng ông cầu được con quái vật giúp phép rồi thì luyện tập theo cách bảo ban của nó; ông cụ lại hy sinh đứa cháu nhỏ của mình để tạ Ơn. Có nhiều người lại quả quyết những: nào ông cụ đã bán hồn cho quỷ Satan; nào ông cụ cử hành những ác lễ, những cuộc yêu thuật; nào ông cụ giết những trẻ nhỏ làm lễ vật, hoặc nữa cho con quái vật bắt sống những trẻ nhỏ ăn thịt, thôi thì đủ các lời độc địa bàn ra nói vào?
Luna ra chiều hết sức chăm chú đến các điều đó. Sau cùng nàng hỏi:
- Về sau, cái chết của cụ Pháp sư ấy ra sao?
- Ông cụ tự tử sau khi bà vợ bị chết một cách tàn ác: chính mắt bà này trông thấy con quái vật giết chết và ăn thịt con bà. Ông cụ tự tử rồi người nhà đem táng trong nhà thờ. Bọn dân quê ở vùng Dannow, người thì vẫn tin rằng vong hồn ông cụ đã làm cho những người trong dòng họ Hammond hóa ra trùng hút máu; kẻ thì bảo rằng ông cụ chết rồi, quái vật vẫn sống và ở ngay trong cái phòng bí mật.


Chú thích:

(1-) Chiến sĩ quân Thập tự: Chiến sĩ Thập tự là những người sung vào đội quân chinh phạt của khắp châu Âu hồi thế kỷ thứ XI để đi chiếm lấy thành Jérusalem của dân Hồi. Họ lấy hình Thập tự giá đính trên chiến phục để làm dấu hiệu, nên gọi là quân Thập tự.
(2-) sir Oliver Hammond: Tuy trùng tên họ, nhưng không nên lầm với Oliver, anh Swanhild.
(3-) Ngày Phán Xét sau cùng: Tức là đến lúc tận thế, người ta đều chết hết, khi ấy sẽ cùng đến trước một tòa án (tòa Phán Xét) để nghe Thượng Đế (đức Chúa Trời) tuyên án về những phúc và tội của mỗi người trong lúc sống ở trần gian. (Theo sự tin tưởng trong đạo Cơ Đốc).

khungbotumlumtele
10-09-2005, 03:50 PM
Chương 7



CHIỀU THỨ NĂM



Miss Bartendale trầm ngâm một lát, cằm đặt lên lòng bàn taỵ Một hồi lâu, cô nói:
- Không bao giờ có khói mà không có lửa, ít khi những chuyện truyền khẩu lại không có dựa lên một sự có thực nào. Mà, cái phòng bí mật kia…
- Cô sẽ được thấy cái phòng ấy. Chỉ có anh em nhà tôi là được vào đấy, sợ cho tôi tớ vào chúng làm khác chỗ những thứ trong phòng.
- Những thứ nào trong phòng?
- Những pho sách, những bình hóa học của cụ Warlock để lại trong ấy, khác nào như một thứ phòng thí nghiệm. Lúc ông cụ hấp hối, có trối lại rằng cái chìa khóa sự bí mật, sau này sẽ tìm thấy ở đó.
Luna mở to mắt, ngạc nhiên:
- Thế mà bốn trăm năm trời nay vẫn không một ai khám phá được điều gì&#33; Thế căn phòng có còn y nguyên các thứ không?
- Ngoài một vài cái bị bọn quân lính của Cromwell(#1) lấy mất hay làm vỡ hồi họ đóng binh trong lâu đài Dannow, còn thì không ai đụng chạm tới những vật ở đâu vẫn ở nguyên đấy. Theo lời bà Blavatsky và sir Williams Crookes thì có lẽ bọn quân lính đã lấy mất hoặc hủy hoại mất những dấu tích cốt yếu nhất rồi.
- Nếu thế thì đến tôi, tôi không biết có được may mắn hơn không?
Swanhild bàn góp:
- Từ 1890 đến nay, một vài khoa học chuyên môn cũng đã tiến được nhiều rồi.
Luna trịnh trọng gật đầu:
- Có thế. Bà Blavatsky là một nhà thần linh học, còn tôi, tôi là một nhà siêu linh học kia&#33;
- Siêu linh nghĩa là gì ạ?
- Nghĩa là tôi có một giác quan thứ sáu(#2)rất sắc sảo và nhờ giác quan ấy tôi có thể tìm thấy được dấu vết con quái vật trong rừng.
- Nhưng giác quan thứ sáu là thế nào?
- Đó là trực giác. Hẳn cô cũng đã có lần tự nhiên thấy lòng mình gớm sợ, ác cảm ngay với một vài người rồi, mãi sau, biết rõ người ta hơn, quả nhiên thấy mình không nghĩ lầm, có phải thế không?
- Vâng, chính thế đấy.
- Đó là nhờ giác quan thứ sáu của cô báo cho cô biết trước đó. Cái trực giác của ta kia chính là cái ý niệm về sự hòa đối trong cuộc đời, về sự thật, sự công bằng, minh bạch ở đời. Khi nào người ta đã ra khỏi cái cõi thật phải, và minh bạch ấy hoặc bằng lời nói hoặc ở trong tâm ý hoặc nửa lộ ra diện mạo bề ngoài, khi ấy tức khắc có sự ngang chướng mà ta nhận thấy được ngay; những ý nghĩ sâu xa, một tính khí ưa vật dục, hay cái số chết về tai họa, đó là những điều làm mất sự hòa đối – sự mất hòa đối hay sự ngang hướng ấy, nếu gặp ở nhân vật nào là chúng tôi cảm thấy được ngaỵ Nhà thần linh học có khiếu riêng về mặt này, cũng như những người khác có khiếu riêng về hội họa hay về âm nhạc. Vậy, nếu đêm vừa rồi, có xảy ra trong rừng một việc kỳ quái nào, một chuyện phi thường nào, thì tôi sẽ có thề tìm ra được dấu vết (Luna hỏi tiếp). Thế, lúc cô đi tìm trong rừng, ngoài ông anh cô và cô con gái tên Kate, con chó còn đánh hơi giúp cho cô thấy được cái gì khác nữa không?
- Không, tôi không nhận thấy gì lạ hết. Chỉ thấy con chó lúc được ra khỏi rừng thì có vẻ bằng lòng lắm.
- Trong câu chuyện ông anh cô kể lại có một chỗ tôi lấy làm lạ: là con chó theo ông ấy sao không sủa báo trước cho chủ biết rằng kẻ thù đang tiến tới gần?
- Trời&#33; Quái lạ thực.
Gođard vẫn lẳng lặng cầm lái từ nãy giờ, lúc đó bỗng quay đầu lại:
- Vâng. Quái lạ thực. Nhưng ta nên nhớ rằng lúc Oliver thuật câu chuyện thì trong trí không được bình tĩnh. Anh ấy quên sót một vài điều cũng nên.
- Hẳn thế.
Rồi Luna lại đăm đăm suy nghĩ hoài. Swanhild không yên tâm được, lo ngại hỏi nàng:
- Theo ý cô bây giờ thì việc này thế nào?
Luna đáp:
- Việc điều tra của tôi chắc sẽ khó nhọc lắm đây. Tôi xem chừng bí mật kia khám phá ra được cũng chỉ do một việc nhỏ nhặt xảy ra trong khoảng vài ba trăm năm trước, việc nhỏ nhặt ấy ta phải tìm để biết xem là việc gì. Tôi thực lòng mong rằng ông anh cô có thể nói rõ cho tôi biết rằng con chó của ông ta có báo trước cho ông ta biết hay không, bởi vì dù là một biểu hiện, con chó cũng phải coi chừng chứ&#33;
- Mà nếu biết rõ điều ấy thì cô thấy được những mối manh gì?
Luna trầm ngâm đáp:
- Không phải chỉ có bốn chiều(#3) đâu, cô ạ.
- Ra thế kia đấy&#33;
- Khoa chiêm tinh học ngày nay đã được hầu hết các nhà triết học tân tiến nhất công nhận. Phần tôi, tôi cũng đã khảo cứu về khoa học này một cách riêng. Miss Hammond&#33; Cái hình ta trông thấy kia kìa, có phải là “thằng người khổng lồ” đấy không?
Dãy núi mặt tây bắc, dựng đứng như thành, từ từ tiến đến trước mặt ba người như một trùng sống vĩ đại. Xe hơi lên tới dốc, lọt qua một đường rẽ và sau cùng đã trông thấy một phía làng xóm và chỗ đất cao.
Gođard vừa hãm đà xe vừa chỉ tay nói:
- Khu rừng kia kìa, miss Bartendale ạ&#33;
Luna đứng dậy để trông cho dễ, còn Swanhild thì nhìn đám cây rừng, ngờ vực như trước cảnh chiêm bao. Nắng chói khắp mặt cao nguyên: đỉnh đồi nổi bật trên nền trời xanh mờ ám. Những dải suối nhỏ loáng biếc như thép sáng. Cây lá lặng lẽ nhỏ giọt vì nắng ấm đang làm tan hết giá băng.
Gần lối đi, lặng lẽ từng đám người nhà quê khiếp sợ, lãng quên trong chốc lát những công việc thường ngày. Phía bên kia thung lũng và ở tận đầu con đường hẹp, một chiếc xe hơi nhỏ đỗ ngay ở mép rừng. Cạnh chiếc xe hơi có hai người đứng chờ: người cao lớn nhất trong hai người, đầu và tay bị băng bó.
Gođard lái sang ngang và cho xe chạy vào con đường hẹp trong lúc Swanhild kinh ngạc kêu lên:
- Oliver bỏ nhà ra đây, kìa&#33; Rõ điên rồ thực.
Xe chưa đỗ hẳn Swanhild đã chạy ngay lên; đằng kia anh nàng cũng vội vã đến đón. Thái dương và một bên mặt chàng bị vết thương trông rất ghê sợ nhưng chàng vẫn ra vẻ khỏe mạnh như thường.
Chàng lớn tiếng gọi:
- Swanhlid&#33; Em đừng trách anh nhé, mà cũng đừng lo sợ gì nữa, anh không nhớ gì về những việc trông thấy tối quạ Lúc nãy anh thức dậy, bác sĩ nói rằng anh vẫn khỏe mạnh… tội nghiệp cho con Holder quá, anh không nỡ để nó suốt ngày trong rừng này được… này, Swan, người đi cùng em kia là người tìm mạch suối đấy, phải không?
Swanhild cảm động ôm lấy anh nàng rất khắng khít. Giá không có người ngoài ở đấy, dễ nàng nức nở khóc cũng không chừng. Nàng quay lại giới thiệu:
- Anh Oliver tôi đấy, miss Bartendale ạ.
Oliver vui vẻ nói:
- Cô đến vừa dịp quá&#33; (Chàng đưa tay trái bắt tay Luna). Vừa thoạt trông thấy cô, tôi đã ngửi thấy cái hương cỏ thơm mới cắt.
Luna mỉm cười vẻ khoan dung như một bác sĩ không muốn làm phật ý người ốm. Cô trả lời:
- Đã hai năm nay, tôi không dùng thứ nước hoa đó nữa đâu.
Chàng đáp:
- Tôi nhớ được lâu thực. Hồi ấy, khăn tay của cô bao giờ cũng thơm thứ nước hoa ấy. (Quay lại phía em gái, chàng bảo Swanhild): Em đừng tưởng anh vớ vẩn, anh nói thế là vì trước kia anh đã gặp miss Bartendale, mà chính cô Bartendale đã chữa cho anh khỏi mất trí đấy.
Luna ra vẻ ngẫm nghĩ, vừa nhìn Oliver vừa thấp giọng nói:
- Hồi hai năm về trước tôi có được bổ vào làm việc trong nhà thương Sloane-Shell. Thế ra hồi ấy ông nằm chữa ở đấy sao?
- Vâng. Nhưng sau tôisẽ nói rõ cho cô về chuyện này. Hồi ấy cô là vị phúc tinh cho không biết bao nhiêu người cùng lớp với tôi, nhiều thế thì nhớ sao được hết. Nhưng họ thì chẳng bao giờ quên đâu.
Cô có vẻ ngạc nhiên cho sự tình cờ và đáp:
- Vâng, càng haỵ Bây giờ thì, ông Hammond ạ, công việc của tôi là ở trong rừng kia. (Cô nhẹ nhàng gỡ tay mình ra khỏi bàn tay Oliver giữ lại trong lúc chàng nói chuyện. Rồi cô hỏi) Bệnh tình cô gái ra sao?
Sắc mặt Oliver bỗng sầm ngay xuống:
- Cô ấy đang mê sảng, luôn miệng nói rằng một vật “lù lù to bằng cái nhà” xông đến hại mình. Xem chừng cô ta không thể cứu chữa được nữa.
- Ông không còn điều nào nói thêm vào những lời ông thuật lại chứ?
- Không còn điều nào. Các lời tôi nói, bác sĩ đã ghi chép cả, tôi cũng đọc lại hết rồi, không có chỗ nào thay đổi hết.
- Vâng, thế thì được. Ta vào trong rừng đi&#33; Giá từ lúc xảy ra các việc chưa có ai bước chân vào thì hay, nhỉ.
- Nhưng anh Warren lại vào trước mất rồi. Anh ấy kia, kìa&#33;
Chàng trỏ tay về phía một người to lớn và còn trẻ, mình mặc quần áo đi săn. Hắn đứng nói chuyện với Gođard, vẻ mặt lầm bầm. Oliver cắt nghĩa:
- Anh ấy là vị hôn phu của cô Katẹ Anh một mực cho hung thủ chính là anh em nhà Ades và chỉ muốn chúng phải chịu tội. Để anh ta nói lại các điều cho cô nghe. Ê này, Warren&#33;
Anh chàng bước lại gần hai người. Mặt hắn sọp hẳn đi và sắc lại vì căm giận. Hắn mang một tấm chăn ngựa và một cây súng trường. Luna nói:
- Tôi cứ muốn được vào xem xét khu rừng trước khi chưa có ai vào.
Hắn nhìn nàng một vẻ buồn chán:
- Xin bà thứ lỗi cho, là vì tôi tưởng vào đó không hại gì và không ngờ trái ý bà… Chả lúc ấy trời chưa sáng mà cái thằng đồ khốn là thằng Will đã vào kháo chuyện khắp làng, mà nó nói gì là những thằng ngu ngốc liền kháo lại đúng như thế. Chúng nó bảo nhau: “Từ ngày ông cả Reggie mất đến nay, lần này trời mới có tuyết đọng là một&#33;”.
Gođard vội ngắt:
Chàng mỉm cười với Swanhild, lo ngại, nhưng Warren cứ nói nữa:
- Tôi hiểu thế này là không phải lắm, song tôi phải nói thực, bổn phận tôi là phải nói cả cho ông Hammond biết những lời người ta thì thầm bàn ra nói vào. (Hắn nén giận, nói tiếp) Chúng dám nói ông Reggie&#33; Mà ông Reggie cùng đăng lính với tôi với cả ông nữa, ông Oliver nhỉ&#33; Hồi ở mặt trận Cambrai, trong bình sắt còn một nửa nước uống, ông ấy nhường cả cho tôi, nói rằng chính ông ấy đã uống hết một nửa trước rồi&#33; Thế mà tôi cũng xin nhận tôi uống, không ngờ ông Reggie nói dối để tôi yên lòng&#33; Đến bây giờ em Kate của tôi gặp thảm họa này chúng nó cũng chưa vừa lòng, chúng còn tìm cách đổ tiếng xấu cho ông Reggie nữa&#33;
Hắn phải cố sức mới giữ được bình tĩnh để tiếp:
- Vì thế, tôi mới qua lối trong rừng, tra xét dò hỏi về bọn Ades. Rồi sau ông Hammond cùng với tôi trở vào rừng định để đem con chó của ông ấy về nhà.
Swanhild hỏi:
- Thế về anh em nhà Ades, anh đã hỏi được những gì?
- Thưa cô, thằng Charlie thì què một chân, nằm bẹp một chỗ, còn thằng Joe bị một trận nên thân. Chúng nó đánh nhau với lão Miles, bác gác ở cho ông Hudson: hai đứa say rượu nhưng đêm tối, lão Miles không nhận ngay được mặt chàng.
Luna nói:
- Ta cố nhiên phải liệu trước cách phân giải những việc xảy ra ban đêm.
Nàng mở túi xách lấy ra một cành cây(#4) có ngạnh và cầm lủng lẳng trong taỵ Gođard hỏi:
- Cành cây tìm mạch đấy, phải không ạ?
Luna đáp:
- Cành này tìm được mạch nước, mà cũng tìm được cái khác nữa kia.
Nàng bảo con chó theo nàng:
- Ngồi xuống, Roska&#33;
Con chó lớn vâng lời ngay.
Luna cầm lung lẳng cành cây trong mấy ngón tay, người đứng thẳng, mặt ngẩng lên, đôi lông mày chíu lại. Nàng quay mình vòng tứ phía không ngừng chân. Mớ tóc vàng lục với khuôn mặt trắng xanh của nàng là những khoảng sáng cô đơn trong vừng bóng ban ngày, mờ xám. Cây lá rủ dương tàn rợp ở trên đầu nàng và phía sau Luna, người ta thấy những điểm mạ kền của mấy chiếc xe hơi bóng loáng. Cạnh xe, mấy người đàn bà nhà quê sán gần lại, chăm chú nhìn Luna, mắt xanh sáng trên những bộ mặt rám nắng màu nâu.
Swanhild cảm thấy một cách kỳ dị như đã được mục kích cảnh tượng kia một lần nào: những quả đồi vắng lặng, hình thằng người khổng lồ vươn lên khoảng núi, với thứ bóng mập mờ quanh một người đàn bà đang lặng lẽ niệm chú kia, tất cả mọi vật nàng thấy như đều quen thuộc cả


Chú thích:

(1-) Cromwell: Bậc vĩ nhân nước Anh 1599 – 1658), người đã gây ra cuộc cách mệnh lớn nước Anh (1645), rồi chiếm lấy quyền độc tài trị nước
(2-) Giác quan thứ sáu: Thêm vào ngũ quan: trông nghe, nếm, ngửi và sờ mó, của người thường
(3-) Bốn chiều: Chiều rộng, chiều dài, chiều sâu và chiều thời gian
(4-) Cành cây: Một thứ cành rất mềm, mà những người có khiếu riêng bên Âu châu vẫn dùng để làm vật báo hiệu trong lúc đi tìm mạch suối ngầm để đào giếng. Cành cây này ở trong tay họ, người ta cho là có một tính cách dễ cảm động, khiến cho khi gặp mạch ngầm dưới chỗ người ta tìm mạch, tự khắc cong một nhánh lên để báo hiệu. Hiện nay vẫn còn nhiều nơi sử dụng cách này

khungbotumlumtele
10-09-2005, 03:51 PM
Chương 8





CHIỀU THỨ NĂM, GIÁC QUAN THỨ SÁU



Đang quay vòng, Luna bỗng dừng lại, chân dặm hoài một lát trên mặt đất, rồi sau cùng ngừng im: một nhánh ở cái cành nàng đương cầm choãi ra, như ngóc lên, ưỡn mình thẳng ngang và cứ ở nguyên như thế mãi. Nàng bèn cúi mình nhìn xuống chỗ đất ẩm ướt: cỏ ở đây đẫm những máu đã đông lại. Swanhlid nhận ra nơi đó là nơi mình đã đặt Oliver nằm lúc ở trong rừng ra.
Luna Bartendale tiến bước đi vào cái lối dẫn đến một chỗ cây cối quang rộng, qua chỗ đó và tiến nữa lên. Bọn người cùng đi (cả con chó Roska nữa), bước theo sau nàng. Cành cây choãi nhánh lên rồi lại xuôi xuống. Đến khi Luna bước tới một lối nhỏ dẫn đến khoảng quang rộng thứ hai thì nhánh cây nghiêng trở về phía tay phải. Oliver đi gần nàng hơn cả, thấy thế kêu lên một tiếng “Ồ&#33;” ngạc nhiên. Luna chăm chú nhìn con Roska lúc ấy đang hít ngửi vũng máu thứ nhất.
Xa chút nữa, những dấu vết không thẳng hàng, ăn ngoằn nghèo theo những vết máu rải rác., mà mỗi khi tới gần, cành cây trong tay Luna lại lủng lẳng một lúc. Nhưng đến khi tới cạnh thây con chó Holder, cành cây ngoáy tít hẳn lên.
Oliver thở một tiếng dài buồn bực và tức giận.
Luna nhìn cái thây con vật rồi nhìn chủ nó một vẻ dịu dàng, rồi lại bước lên. Qua chỗ gốc cây lớn, là chỗ Swanhild đêm qua tìm thấy anh, Luna lại do dự, hai chân dặm nhịp trên đất, rồi đến bên cây thông sét đánh đi quanh một vòng. Cành cây chỉ cử động có một lúc trên cái lối mà vừa rồi mấy người đã đi quạ Những nhành gai chi chít quấn phủ thân cây, ken khít đến nỗi chỉ có giống rắn mới có thể chuồi qua mà không làm tuột xuống.
Luna lẩm nhẩm nói:
- Kẻ thù kia, chẳng biết theo đường nào mà đến, rồi lại theo đường nào mà đi?
Cô trở gót bước về, ngừng lại ở đầu mỗi lối. Cái cành mềm trong tay không thấy cử động nữa trừ khi tới chỗ thây con chó nằm. Oliver nói ngay:
- Cô còn quên cái lối trước nhất mà cô Kate với tôi đã cùng đi đến đây…
Cô ngoảnh nhìn người thanh niên, đôi mắt mở to, đen láy, âm thầm – một vẻ nhìn buồn và êm dịu.
- Không, ông ạ, tôi không có ý tìm những dấu vết người thường đâu. Từ nãy tới giờ tôi chỉ thấy có một tang chứng quan trọng là những vết máu mà thôi.
Nàng chỉ thây con chó:
- Ông làm ơn bảo người đem để riêng nó một nơi để rồi tôi có thể xem xét lại được không?
Swanhild hỏi:
- Nhưng xem xét con chó làm gì?
- Để may ra tìm được những dấu hiệu gì, có thể giúp tôi biết kẻ đã giết nó là vật như thế nào chăng.
Oliver có vẻ không tin, chàng hỏi:
- Thế ra cô vẫn công nhận có một nguyên nhân hữu hình thực tại, trong vụ này sao?
- Vâng.
- Dù biết trước rằng con Holder không báo hiệu gì cho tôi biết trước.
Luna gật đầu:
- Dù thế nữa&#33; Cho cả đến ma quái, vong hồn chăng nữa cũng không ra khỏi cái thông lệ của vật hữu hình. Gây nên được những thương tích như thế này thì vật hiển hiện kia dù ở hạng nào mặc lòng, cũng phải khoác lấy một hình thể chắc chắn, cũng phải hiện nguyên hình.
Theo lời Oliver, Warren gói con chó vào tấm chăn dạ hắn mang theo. Hắn lễ phép nói:
- Xin bà thứ lỗi chọ Tôi thì cũng nghĩ rằng không cần phải viện đến yêu ma, cũng có thể phân giải được vật này rất dễ.
Oliver vội hỏi:
- Ồ&#33; Warren&#33; Thế cứ sức anh thì liệu anh có xé nát một con chó lớn như con Holder được như thế này không đã nào?
- Thưa ông, mình tôi thì không, nhưng hai người đàn ông thì có thể được lắm.
Luna lại trầm ngâm một lát, rồi sau nàng bàn:
- Nếu ta bỏ giả thuyết có nhiều hung thủ trong vụ này thì ta phải đồ rằng án mạng gây nên do một giống có sức như một con ngựa có bốn chân, khỏe mạnh ghê gớm, lại có thể đến đây và đi khỏi đây không ai biết được bằng cách bí mật nào.
Warren lại bàn:
- Hay một con khỉ đột lớn cũng nên? Ta phải đi hỏi xem có con vật nào xổng ra ở miền tây này không. Nhưng tôi mong rằng, không, thì hơn, vì tôi còn muốn trả thù.
- Mọi người quay trở về, yên lặng.
Luna Bartendale nói:
- Ông Hammond, ông nên cho nhà chức trách biết việc này đi.
Oliver đáp:
- Xin vâng. Anh Warren, anh giúp ông Gođard đem con Holder lên xe, rồi về ngay bên nhà tôi bảo lão Walton để nó vào một nơi để rồi miss Bartendale còn khám xét lại. Xong rồi, anh đi trình cảnh sát nghe không?
Khi Gođard với Warren cùng mang cái bọc thảm hại kia đi, Luna mới nói:
- Nếu ta không thể tìm được manh mối nào khác, ta vẫn có thể cho vụ án mạng này vào loại vụ án mạng ở phố Morgue trong truyện của Edgar Poe kia mà.
Olievr hỏi nàng:
- Nhưng cô không tin chuyện ấy chứ?
- Không, nhưng cũng phải lấy một chuyện làm quà cho nhà chức trách chứ? Bây giờ, tôi lại muốn thử tìm một lần nữa xem.
Cô, Swanhild, Gođard (lúc ấy đã xong việc ngoài xe) với Oliver lại quay vào rừng, nhưng Luna vẫn không tìm được manh mối nào khác. Đến chỗ phân giới bên kia của khu rừng, Luna đứng lại trước một gò thông nhô lên ở khoảng giữa khu rừng và miền bờ bể.
Swanhild giảng giải:
- Gò này chính là Gò Sét (Thunder&#39;s Barrow), một di tích của ngôi lăng huyệt cổ.
Bốn người cùng lên dốc, Luna ngắm cái hình “Thằng người Dannow” một lát rồi hỏi:
- Cái mô đất kia có liên lạc gì với con quái vật không nhỉ?
Swanhild vừa nhìn anh vừa đáp:
- Cái đó tôi không được rõ.
Oliver cũng lắc đầu:
- Cả tôi cũng vậy. Thực ra, thì ngày còn bé, chúng tôi không được phép nghe những sự tích về con quái vật, mà về sau, lớn lên cũng không có mấy thì giờ rảnh để lưu tâm đến.
- Tôi hiểu. Bây giờ xin ông đưa tôi đi xem những hình ảnh về con quái vật còn trong nhà thờ di.
Oliver giữ Luna lại lúc nàng toan bước xuống:
- Miss Bartendale, cho tôi hỏi một câu đã. Vừa rồi, ở trong rừng, cô không tìm thấy một dấu hiệu huyền bí nào, cũng không thấy vết tích tỏ ra rằng có một giống thú to lớn nào đã đến đây… Vậy, nếu không có một vật trần gian nào, lại cũng không có một vật yêu ma nào trong việc này, thì phỏng đoán cái gì được?
- Ông Hammond ạ, tôi xin nhắc lại câu thứ nhất tôi đã hỏi ông: Con Holder có báo trước cho ông để ý đến một sự gì đang hiện đến bấy giờ không? Có lẽ vì ông bị ngã choáng đầu nên không nhớ được nữa chăng? Nếu quả ông không quên – nếu quả con chó không tỏ ra một dấu hiệu có kẻ lạ tiến đến – thì chứng cứ đã rõ rệt: con quái vật nhà ông thuộc về một cõi khác, một chiều khác: đó là chiều thứ năm. Vì nếu là giống ở cõi trần, hay ở cõi vong hồn chăng nữa, bản năng của giống chó cũng có thể cảm thấy được.
- Cái cõi thứ năm kia là thế nào?
- Cả khoa học lẫn tôn giáo đều không có quyền lực gì đối với cái cõi đó. Tôi hết lòng cầu mong cho con yêu quái nhà ông không phải là giống trong cái cõi này.
Rồi không giảng giải gì thêm, cô dần dà đi trở xuống, Swanhild đến bên nắm lấy cánh tay cô, giọng nài nỉ:
- Cành cây dò mạch của cô không phải là tìm được đủ mọi thứ. Tuy nó dò được các vết máu đấy, nhưng cô nên biết rằng ngay dưới chân cô vừa rồi, có cả một thế giới người chết, vậy mà có thấy cành cây ấy động đậy qua tí nào đâu:
Luna đưa mắt nhìn quanh mình, cô ôn tồn nói:
- Vết máu rơi là một đằng, cô ạ; còn những người chết và chôn cất theo lễ thường mà họ tin thờ lại là một đằng khác. Những kẻ chết dưới gò đấy kia vẫn được yên nghỉ, hay ít ra vẫn được yên nghỉ còn ban ngày. Ban đêm thì… thì có lẽ cái đó lại là chuyện khác.
Cô ngừng lời và bỗng rùng mình:
- Ở đây lạnh thực&#33; Thôi ta vào nhà thờ đi&#33;

kill_khungbo
10-09-2005, 11:36 PM
Dài wá đọc không hết nơi, nhưng có câu này sao khungbo cứ post ra wài dzị khungbo?
"Say men rượu...Ngày mai sẽ tỉnh
Say men tình...Mãi mãi vẫn còn say
Rượu giết ta...Ta say rồi lại tỉnh
Tình giết ta...Ta chết mãi ngàn thu&#33;&#33;&#33;&#33;"

Bit nhậu thiệt hôn đó khungbo? Bữa hổm vô tình anh đọc được tờ báo có đưa tin:
Chiện lạ có thật 100%
Cảnh sát vừa túm được một tên khungbo trong một tình huống hết sức nực cười, một tên khungbo tháo chạy tông vào một gã say rịu bị té, tên này đứng dậy chạy tiếp...keke nhưng chỉ chạy được dzài bước rồi nằm lăn quay, cảnh sát kẳng định tên này bị xỉn do hít phải hơi rịu cũa gã say...thật may mén cho cảnh sát.

Kekeke... đó là tên khungbo thứ 101 được mời lên Lương Sơn Bạc. :diablo:

ca_map
13-09-2005, 03:02 PM
Originally posted by kill_khungbo@Sep 10 2005, 04:36 PM
Dài wá đọc không hết nơi, nhưng có câu này sao khungbo cứ post ra wài dzị khungbo?
"Say men rượu...Ngày mai sẽ tỉnh
Say men tình...Mãi mãi vẫn còn say
Rượu giết ta...Ta say rồi lại tỉnh
Tình giết ta...Ta chết mãi ngàn thu&#33;&#33;&#33;&#33;"


  :diablo:

Quoted post

Thèn ni ngu dzữ dzậy ta , cái đó là chữ kí của Kb tui moà , ko muốn dòm thấy thì đừng có để chế độ coi chữ kí , khờ ơi là khờ , dzìa nhà Kb dạy lại cho hén

Còn chiện mà kill_kb kể đó , hay thiệt đó , có uống Fristy ko mà trí tưởng tượng phong phú wá dzậy , chỉ Kb này dzài chiêu koai ,công nhận kể chiện hay thiệt đó , bà con thấy có đúng hem , nếu đúng thì cho tràng pháo tay lên tinh thần kill_kb để kill_kb lây sức mà sáng tác tìp nà ;)

kill_khungbo
14-09-2005, 11:20 AM
Originally posted by ca_map@Sep 13 2005, 03:02 PM
Thèn ni ngu dzữ dzậy ta , cái đó là chữ kí của Kb tui moà , ko muốn dòm thấy thì đừng có để chế độ coi chữ kí , khờ ơi là khờ , dzìa nhà Kb dạy lại cho hén
Còn chiện mà kill_kb kể đó , hay thiệt đó , có uống Fristy ko mà trí tưởng tượng phong phú wá dzậy , chỉ Kb này dzài chiêu koai ,công nhận kể chiện hay thiệt đó , bà con thấy có đúng hem , nếu đúng thì cho tràng pháo tay lên tinh thần kill_kb để kill_kb lây sức mà sáng tác tìp nà ;)

Quoted post


hia hia ... người ta nói Chồng vợ lời hay lẽ phải đóng cửa dạy nhau cả khi ăn, khi ngủ, má áp, vai kề là nghĩa tao khang.
Muốn chỉ dzzài chiêu hả, ứ chịu, Kill hỏng muốn dừng bước sớm dzị đâu nha&#33;Khungbo muốn dzzụ dỗ kill này hả, còn khuya&#33;&#33;&#33; :diablo:
Mang trên vai gánh nặng khungbo... :threaten: phấn đấu nội trong tháng nì phải đưa mí tên khungbo lên Lương Sơn Bạc. :diablo:

ca_map
14-09-2005, 05:48 PM
ọach , ọach , trời wơi , đọc bài kill_kb dziết mà Kb té ghế wài hà , xui dễ sợ á ( mở ngoặc té ghế vì cười nhìu wá á )

kill_khungbo
16-09-2005, 09:43 AM
Originally posted by ca_map@Sep 14 2005, 05:48 PM
ọach , ọach , trời wơi , đọc bài kill_kb dziết mà Kb té ghế wài hà , xui dễ sợ á ( mở ngoặc té ghế vì cười nhìu wá á )

Quoted post

Hia hia đọc truyện ma của khungbo nghe sợ wá mún rớt tim ra ngoài lun nì, nhưng dài wá đọc cả buổi ko hết, mặc dù tiền net có tháng lên đến vài chai cũng gáng ngồi đọc cho hết ha khungbo ha, cái nì người ta kiu bằng khungbo thời gian của độc giả đó , hí hí mà lâu lâu thay đổi không khí cười lên chút chút lấy lại tinh thần để còn tiếp tục nghe chiện ma của khungbo nữa chứ &#33;?&#33;?&#33; :cuoilan: